Sign up

CÀ KÊ CHUYỆN TẾT NHỨT... - Lê Trâm



 

CÀ KÊ CHUYỆN TẾT NHỨT...

Lê Trâm

 

Bây giờ đời sống kinh tế đã khá lên rất nhiều, chỉ cần dạo một vòng chợ là có ngay một cái tết ra trò, thậm chí chỉ cần ngồi nhà a lố a lồ vài tiếng muốn gì chả được. Quay lại vài mươi năm trước mới thấy ông bà cha mẹ ta đã sắm sanh cho một cái tết vất vả như thế nào và cũng “ đầy không khí tết” tạo nên một nét văn hóa đặc biệt. Bắt đầu độ cữ tháng 9, 10 bất cứ thứ gì có được xung quanh đều quy ra chợ hoặc quy ra món mà áp vào tết. Nội cái củi đun đã ra chuyện. Thứ nấu bánh tết, thứ rang nổ, không quên dành những phần củi bén lửa nhất để chụm mấy ngày tết, nhất là sáng mùng một, thời khắc tinh khiết và linh thiêng nhất một năm, để “ tránh xui xẻo quanh năm”. Lá chuối gói bánh cũng được dợm từ rất sớm, sau cữ bão lụt thêm một lần “đặt hàng” lại. Bởi, bão lụt cỡ năm Thìn 1964 thì nhà cửa còn cuốn theo nước dữ thì còn đâu mà bánh với chả tét. Mọi thứ được “ trí” lại đâu vào đấy. Nhà có sẵn nếp thì khỏi nói, còn không,lại phải loay hoay: nếp nào gói bánh tét bánh chưng, nếp nào rang nổ làm bánh in, nếp nào dành đổ bánh tổ, nếp nào dành nấu xôi đường hay xôi cúng? Đâu phải vào đấy mới thật sự an tâm. Làng tôi ở ven sông,là nơi giáp ranh của ba xã thuộc ba huyện, vừa cận giang vừa cận sơn cận hải nên có vẻ như cái gì cũng pha một tí phong tục mỗi nơi. Nên thích thì thích thật nhưng quả là rắc rối cho cái sự sắm sanh cho mấy ngày xuân nhựt. Cái khoản cúng kiếng cực kỳ thiêng liêng ấy phải chuẩn bị thật kỹ lưỡng. Năm nay cúng gà hay đầu heo? Gà, thì sẽ quy hoạch từ nhà mình ra bà con tới chòm xóm xem sẽ “huy động” được bao nhiêu. Còn “ đầu heo” ư? Một đầu heo được tính bằng một con heo (thời ấy không ai bán đầu heo riêng rẽ mấy ngày tết như bây giờ) bởi vậy chỉ năm nào làm ăn khấm khá hoặc “có chuyện” mới làm heo được. Còn không... tất thảy phải quy ra gà. Mà năm này cúng đầu heo thì năm sau thế nào? Phải cúng tiếp mới phải đạo, mới an tâm, không sợ ông bà cô bác hay thần linh quở trách! Nhưng mà cúng? Thì không phải năm nào cũng đào ra heo cúng! Và, còn phải “ phân bổ ngân sách” cho trăm chuyện khác nữa chứ! Nội cái khoản heo quéo đã thấy rách việc. Rồi chuyện đường làm bánh trái. Phải bôn ba mấy phiên chợ Đồn, chợ Hương An, mấy phen chợ Chiều mới có đủ mớ đường bát “ ngọt mà đậm” dành cho đủ thứ bánh. Không sẵn tiền, cứ bán được đồng nào là sắm lần tới. Rồi khoai môn, sắn dây, tiêu hành ớt tỏi,.. thứ “hành thị” không biết bao nhiêu là đủ. Chuối cúng cũng là vấn đề. Cũng quy định từ chuối nhà ra chuối hàng xóm. Nhà tôi thì quy ra... nhà ngoại. Nhà ngoại chuối nhiều vô kể nên có lẽ chuối là thứ dễ sắm nhất ở nhà tôi! Ba ngày tết, mỗi ngày phải có một dĩa cá để cúng. Vậy thì phải đi tận chợ Bà mới có cá ngon. Mà phải thật sớm, tầm bốn giờ sáng mới có cá tươi nhăn vừa được vớt lên từ biển(?)

Trong lúc mẹ tôi mải loay hoay lo sắp xếp bếp núc chợ búa thì ba tôi lên chương trình... dọn dẹp! Quét một thôi từ nhà ra sân ra ngõ. Chặt quang cây cối, sửa lại rào giậu. Quy hoạch mấy hàng bông cả cũ lẫn mới. Tất cả đều phải sạch sẽ tinh tươm. Rồi mới đến nhà cửa. Thời ấy chỉ là nhà phên tre mái lợp rạ nên có năm phải tu bổ cả mái rạ lẫn phên vách mới có thể “ yên ổn”mà ăn tết! Sau này nhà cửa kiên cố hơn nên giảm được khoản này. Rồi tính đường tìm họa báo tranh ảnh hoặc giấy hoa ( bây giờ giấy hoa chỉ dành để gói quà tặng) để dán tường. Cho ra không khí tết, ba tôi bảo  thế. Bây giờ nhiều lúc chạnh nghĩ lại hình như việc trang trí chỉ để che bớt đi cái nghèo khó thì đúng hơn. Có lần tôi bảo hay là giảm bớt cái khoản này đi thì ba tôi trả lời nhẹ bâng:” thiên hạ làm sao thì mình làm vậy, con à!” Xong xuôi mới tính đến chuyện bàn thờ. Phải quét sách như lau. Cạo hết các mép sáp bám ở các chân đèn. Rồi thay nồi hương. Cát thay nồi hương phải là thứ cát tinh, trắng mịn được lấy từ nỗng cát Đồng Tràm về, giê thật sạch, phơi khô mới dùng được. ( thứ cát này hiện nay được xuất sang tận Nhựt bổn để chế thành pha lê). Các chân hương gom hết lại, được thành kính đốt gọn ghẽ nơi bếp nhà. Sau nữa là tiết mục giặt giũ. Tất thảy chăn màn chiếu gối áo quần được khuân hết ra sông giặt giũ cẩn thận. Cộng thêm mấy cái đầu của mấy anh em tụi tôi, đứa cúp “búp bê”, đứa hớt “ ca rê” thì cả nhà đã thật sự tươm tất. Sáng từ nhà ra đến tận ngoài đường, tuyền một màu tết nhứt!

Công việc gói bánh tét chừng như đã trở thành một thứ “công nghệ”. Lá được chặt xuống nguyên tàu, rọc riêng lá, phơi sơ qua ít nắng cho lá khỏi rách khi gói. Lá được lau sạch, phân thành hai, loại lớn dành gói bánh tét, loại nhỏ gói bánh ú bánh chưng. Và xếp lại thành từng chồng cho phẳng khi nào gói mới lấy ra. Lạt được chẻ từ tre hoặc giang cũng được hơ sơ qua lửa cho dẻo. Thịt heo mỡ chuẩn bị sẵn, nếp và đậu xanh vo và để thêm mấy tiếng cho ráo nước. Công việc làm bánh chỉ có người lớn thực hiện. Bọn trẻ con chúng tôi giỏi lắm chỉ phụ buộc thêm lạt vào các đòn bánh đã gói sơ qua. Và cả nhà đầm ấm bên nồi bánh chưng thức chờ năm mới đến. Trong tất thảy các thứ được bày ra tụi trẻ con chúng tôi khoái nhất tiết mục làm thịt heo. Tầm hai bảy hai tám tùy theo năm thiếu hay đủ, ngày tốt ngày xấu tiếng heo bị chọc tiết kêu inh ỏi đầu làng cuối xóm. Chúng tôi thức dậy sớm theo tiếng heo kêu gào, ngồi chò hõ xem người lớn tưới nước, cạo lông. Do chỉ toàn dân nghiệp dư nên công việc “ bảy đáp” thường phải loay hoay khá lâu. Chúng tôi thỏa sức chứng kiến sự lộ... hàng của từng thứ tim gan phèo phổi ...heo sau những nhát dao vụng về của người lớn. Rồi, đứa nào bị “ đấm dài” sẽ sở hữu chiếc bong bóng đầy quyến rũ. Có năm, bong bóng được “sung công” để thành bong bóng hay biến thành trái banh chơi chung cả bọn ...

Mùng một tết, mọi thứ trở nên hết sức trịnh trọng. Trịnh trọng và nhàn nhã. Như cái cách ba tôi ngồi trước tách trà bốc khói thơm lựng, trên tay điếu thuốc rê cháy đỏ rực...

Cái không khí tuyệt vời chỉ có trong mấy ngày tết nhứt, đôi lúc tôi chợt nghĩ, có thể...  “ăn“ được. Biết bao giờ lại có được cái không khí ấy, để “ăn”?

 

 

 

 

 

 

 

(1) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

PHÍA GIÓ BIỂN KHÔNG CÒN AI - Truyện ngắn Lê Trâm

 altCon đường ngập đầy cát dẫn về hướng mặt trời mọc. Rẽ trái hơn trăm mét là đã ra được mé cửa biển. Nơi sông gặp biển gió cứ giần giật thổi. Hương ưỡn ngực hít đầy một ngực gió mặn chát. Bên kia, về phía bắc là phố thị nhộn nhịp. Nhìn về  hướng đông chỉ thấy trời nước mang mang. Xa tít tắp là mịt mù Chiêm Bất Lao mờ ảo. Cách con đường thiên lý Bắc Nam hơn chục cây số nhưng cũng chỉ vì nghịch một con đường mà nơi này trở thành chốn hoang sơ. Khác hẳn cảng thị xô bồ từ những mấy trăm năm ở phía bờ bắc, nơi bây giờ, có gần đến hai người Tây/ một người bản xứ chen chân trên đường phố bất kỳ ngày lễ hội hay không lễ hội. Thế mà nghe nói chính nơi đầ những cát này mới từng là cảng thị một thời của cả một vùng đất rộng lớn. Chút hồi quang của phố thị xa xưa còn hắt bóng đôi chút qua ngôi chùa cổ phía trong xóm Hương vừa ghé khi chiều. Những chuyến hải trình từ nhiều quốc gia qua vùng biển đầy sóng gió và cướp biển này vẫn còn lưu dấu dưới chân các bệ tượng đá, gỗ hay đất nung nơi ngôi chùa cổ lưng dựa vào biển hướng mặt về núi Lan Huệ Sầu Ai ở phía tây mờ xa. Nhiều pho tượng rất lạ, Hương chưa từng thấy bao giờ. Cũng không thể nào tưởng tượng ra nổi nên khi gặp cứ có cảm giác sững sờ. Nàng đặc biệt chú ý đến những nét thô mộc trên mấy pho tượng tạc từ một thứ đá lạ, trắng đục, nham nháp, ở đó, khuôn mặt đức từ bi như chìm hẳn vào trong lòng đá. Và lấp lánh một niềm tin kỳ bí khó giải thích được. Hay những pho tượng các vị thần Tây phương lạ hoắc lạ huơ. Có vẻ như gốc gác các pho tượng đâu tận vùng Trung Á hay một châu lục nào xa xôi. Cũng lạ khi chùa lại thờ những pho tượng cả Phật lẫn thần của không chỉ các hệ phái Phật giáo mà còn là của nhiều thứ tín ngưỡng khác, từ nhiếu nền văn minh khác, xa lạ và cổ xưa. Hương lại nghĩ đến đề tài mình vừa bảo vệ năm trước. Nàng đã tự làm khó mình và cảm thấy không vui vì chẳng đóng góp gì thêm cho khoa học qua mấy năm trời “nghiên cứu”. Nếu sớm đến nơi này nàng đã chọn đề tài khác, thiết thực hơn chăng? Nhưng, rồi liệu có ích gì không khi chính nàng lại đang rơi vào tình cảnh dở khóc dở cười đầy khốn nạn như vừa trải qua?

Trữ là một kí ức đã mù xa tít tắp. Những ngày ấy đã dày lên, chật chội dần lên tưởng như không thể có gì thay đổi được. Vậy mà vẫn cứ thay đổi, như muốn trêu ngươi. Không nhớ đã bắt đầu từ đâu? Từ sự nhấm nhẳng của Hương mỗi ngày? Hay vẻ mặt nặng nề u ám của Trữ mỗi khi về đến nhà? Những ngày còn trẻ dại không sao thấy hết mọi ngóc ngách cuộc đời. Thêm một năm có vẻ như Trữ càng “nhìn ra” sự trống trải hẫng hụt. Cái cuộc vui kéo dài quá mức chịu đựng của Hương, càng quá sức chịu đựng của Trữ. Ngày ấy, nhiều thứ có thể lấp đi sự thiếu vắng tiếng cười trong trẻo nhưng càng ngày sự thiếu vắng càng dày lên u ám. Khi còn váy xanh áo trắng khăn quàng đỏ bíu vào cổ Trữ nhõng nhẽo những  ngày làm đội viên thiếu niên có bao giờ Hương gợn lên một tình cảnh  một ý nghĩ u uất như thế này đâu. Chính họ đã từng làm được cả những chuyện có vẻ như là không thể, thì có gì để phải sợ hãi. Những ngày rời quê lên huyện trọ học canh cánh bên mình nỗi nhớ day dứt. Hay những cuối tuần đạp xe như bị ma đuổi trông mau về để được sà vào vòng tay ấm áp của Trữ. Những lần cùng nhau chèo ghe quanh quẩn hết mấy khu đầm, từ sông ra tận cửa Yến có bao giờ lóe lên trong lòng họ nỗi niềm bất trắc gì đâu. Hay bốn năm dai nhũng nhẵng khi Hương đi học đại học rồi cũng vượt qua. Nhưng đến một lúc... Nỗi bức bách cứ dầy lên mãi. Đến độ... “ hay là cứ em đi tìm?...”, Trữ bật lên không kịp kiềm chế. Hương ngó sửng Trữ miệng bất giác mở to không thốt thành tiếng. Nàng nhìn Trữ như nhìn một con quái vật xa lạ. Mọi thứ trong lòng nàng chợt vỡ xủng xoảng như có cả ngàn mớ ly tách ùa xuống sông, vỡ tan tành. Trong thoáng chốc mọi thứ tồn tại trong lòng nàng bao nhiêu tháng năm đâm ra mất hút, tan biến không một tăm tích. Hương rùng mình vì sự thay đổi như là ma xui quỷ khiến trong lòng mình. Cứ thấy như mọi thứ chẳng còn gì tồn tại. Mắt Hương nhìn Trữ như muốn tóe máu. Trong lòng nàng dấy lên sự căm hận tột cùng mà nàng thừa biết lẽ ra không nên thế. Lạ cái là nàng không khóc mà chỉ thấy dửng dưng và trống rỗng. Và nàng đứng lên nhẹ nhàng đi ra đường. Chân không dép và đầu đội trời. Nàng đi về phía bến sông, nhẹ nhàng như đi thể dục buổi sáng. Trữ sợ hãi quýnh quýu bám theo. Nàng dựa lưng vào nhành tràm có tán vươn ra phía mép nước. Có gì động đậy phía mép nước nàng cũng không nhận ra nữa, chỉ thấy có sự gì đó đang thay đổi dưới chân mình. Hình như là nước đang trôi dưới chân hay là cá đang quẫy phía bến thì phải. Nàng ngạc nhiên trước sự tỉnh táo kỳ lạ của mình. Từ lâu nàng hiểu đến một lúc nào đấy sẽ phải kết thúc nhưng không phải như thế này. Đơn giản và nhẫn tâm quá. Trong ngần ấy ngày tháng sống chung giá trị của cuộc sống cũng thay đổi không ít. Người ta quan tâm nhiều thứ khác, lạ hơn và cũng bỏ qua nhiều thứ không thể nói là không giá trị. Thế nhưng tại sao cả nàng và Trữ không có lấy một chút thay đổi nào khả dĩ có thể làm xoay chuyển sự thiếu hụt nơi họ? Có phải chính vì cuộc sống bó hẹp tù túng chậm rãi buồn phiền và nhạt nhẽo họ đang trải qua?      

Chính Hương là người rời bỏ cuộc chơi trước. Nàng xin chuyển về một cơ quan ở tỉnh như là cách lìa xa cuộc sống (nàng cho rằng) tù hãm, giam cầm cả những giấc mơ có thực và không có thực của nàng. Rồi nàng theo một khóa học kéo dài đến ba năm. Vẫn cứ muốn có một sự thay đổi quyết liệt và triệt để. Và rồi trong một cơn chếnh choáng đêm cuối cùng của lễ hội văn hóa thể thao miền núi huyện Q nàng có được K. Được đúng một đêm. Nhưng là một đêm đủ để lại những gì nàng đang khao khát. K đã rủ rỉ rù rì cùng nàng hết một đêm trắng mà nàng thừa biết bởi một nơi chốn buồn chán nhạt nhẽo như thế này quá xa lạ quá hẻo đối với anh. Nàng chỉ là một cách thức lấp đầy những ngày lễ hội mệt nhọc vì công việc nếu không chẳng bao giờ K lưu lại. Trong những chuyện vừa đáng tin vừa đáng ngờ K bảo rằng anh đã từng một mình lội ra biển trong đêm tối mịt mù giữa trời mưa lắc rắc. Nước ngập đến thắt lưng đến ngực rồi đến tận cổ. Lúc ấy trong anh dậy lên một cảm giác cực kỳ sảng khoái như là đang cùng biển làm tình. Nước miết lên thân thể anh, bó vào thân thể anh đầy nhục cảm. Anh mê muội rướn người tới mãi. Ánh lân tinh từ các phiêu sinh vật trong lòng nước biển phát sáng theo từng bước chân anh càng lúc càng thêm lấp lánh. Anh lướt đi như kẻ mộng du, đầy phấn khích. Nếu không có tiếng kêu thất thanh của con bé cùng tham gia trại sáng tác thiếu nhi với K thì chẳng biết kết cục sẽ ra sao. K bảo sự tồn tại của anh trên thế gian này thực sự mong manh. Hêt sức mong manh. Có thể đúng là như thế thật cho đến tận khi anh thật sự rời bỏ thế gian bởi một cơn bệnh hiểm nghèo. Và thêm một lần nữa Hương lại chấp chới.

Khi Hương được tổ chức quy hoạch để đề bạt làm trưởng phòng cũng là lúc người ta tập trung săm soi cuộc đời nàng như với một đứa ca ve giấu làng giấu xóm tung tích xấu xa của mình. Cũng là thời điểm sự chịu đựng của nàng lên đến cùng cực. Và nàng đã dạt tới đây theo kiểu một đứa ca ve lỡ thời thật sự. Cuối cùng Hương vẫn cố tìm tới một nơi chốn xa lạ, yên bình và nàng đã không thất vọng.

Đêm sập xuống thật nhanh. Biển và đêm như đồng lõa rủ rê Hương làm chuyện gì đó không kiểm soát được. Cảm giác bị thúc bách lớn dần trong lòng Hương khiến nàng luôn cảm thấy bứt rứt không yên. Hương bỏ dép chân trần bước ra mép nước. Nàng đi thật khẽ như sợ chạm vào biển. Chung quanh không một bóng người. Rồi nàng loay hoay lúc lâu với chiếc thúng chai khá lớn so với vóc dáng nhỏ bé của mình. Loay hoay mãi rồi cũng đẩy được chiếc thúng ra khỏi mép nước. Nàng vén váy bước lên chiếc thúng chai đang chòng chành và đưa chân đẩy nhẹ vào cây cột rớ gần đấy. Cũng khẽ khàng như sợ biển nổi giận. Chiếc thúng chai lắc lư một lúc rồi từ từ trôi ra phía cửa biển. Chẳng còn ai phía gió biển.

 

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TẠP CHÍ ĐẤT QUẢNG XUÂN NHÂM THÌN - 2012

Văn xuôi:

Dáng vóc tuổi 15... - Phan Chí Anh

Văn nghệ Quảng Nam- nhìn lại và nghĩ tới- Tiêu Đình

Những mùa xuân đáng nhớ- Phú Thiện

Xuân muộn- Truyện ngắn Nguyễn Bá Hòa

Thềm xuân chộn rộn- Nguyễn Thành Giang

Bình yên phố Hội- Hoàng Anh Thơ

Từ mùa xuân đến mùa xuân- Nguyễn Nhã Tiên

Quán giữa rừng- Truyện ngắn Vũ Đức Sao Biển

Phía gió biển không còn ai - Truyện ngắn Lê Trâm

Thơ:

Vũ Minh- Hoàng Anh Tuấn- Trần Văn Lợi- Nguyễn Hưng Hải- La Trung- Hà Văn Đa- Lê Quang THái- Nguyễn Chiến- Phạm Tấn Dũng - Phùng Tấn Đông- Huỳnh Minh Tâm- Đỗ Thượng Thế- Nguyễn Tấn Sĩ- Trương Đức Tới- Nguyễn Đức Dũng- Ngô Thị Thục Trang- Nguyễn Đông Nhật- Trương vũ Thiên An- Huỳnh Trương Phát- Nguyễn giúp- Đinh Huyền- Nguyễn Tấn Cả- Trầm Thụy Du- Hà Văn Em- Phạm Phù Sa0 NGuyễn Hữu Lâm0 Phương Dung- Nguyễn Hàn Chung- Nguyễn Hữu hồng minh- Lê phước Trịnh- Mai Thanh Vinh- Nguyễn ngọc Chương- Lâm Quỳnh- Huỳnh thị Thu Hậu- Nguyễn Quang việt

Nhạc:

Khúc nhạc xuân- Nhạc & lời Tiến Dũng

Quảng Nam Đà Nẵng- Một khúc ca- Nhạc & lời Hoàng Bích

Dòng chảy văn  hóa:

Lễ hội Bà Chiêm Sơn- Một hiện tượng văn hóa tổng thể- Mai Quý Tùng

Nghiên cứu - lý luận - phê bình:

Đọc lại một số bài thơ chúc tết của Bác Hồ- Đõ Duy Văn

Bàn về mối quan hệ văn học đối với văn hóa- Phạm Đình Ân

Rồng vẫn đang bay- Phạm  Phú Phong

Mùa xuân trong thi ca- Hoàng Hương VIệt

Trà dư tửu hậu:

Lẩy Kiều, một thú chơi- Cửu Khiếu

Văn học - học văn

Vũ Xuân Quản, Lê Hồng Thiện, Nguyễn Loan, Nguyễn Thị Trà Nguyên

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

NĂM MỚI NÓI CHUYỆN... PHỎNG VẤN CŨ

Năm mới, tải lại một bài trả  lời phỏng vấn cũ  in trên báo Quảng Nam để các bạn đọc chơi:

Cổng khóa. Tôi  đứng ngắm hoa phủ kín cổng, hiên nhà, cả hàng rào chen với bắp. Có đủ cả vàng, hồng , đỏ, cánh mảnh, nhỏ hiền lành như vợ chồng chủ nhân, hiền như những trang viết càng về sau này của anh. Ông chủ  đã về.

 

- Đi Hội An ông ơi! Thuê đò cho mấy ông bà chi hội văn học đi thực tế sáng tác Cù Lao Chàm. Đấy, tiền kinh phí hỗ trợ sáng tác, thực tế đấy.
- Lại tiền đó. Anh nghĩ sao nếu anh cho ra tác phẩm hay, Nhà nước sẽ thưởng ngay một khoản, chứ không chơi cái kiểu hỗ trợ như bao cấp này ?
- Tôi có thời kỳ cũng nghĩ như ông, nhưng không đúng đâu. Đây là làm phong trào, không thể không có. Thà không có Hội Văn học - Nghệ thuật thì thôi. Tiền hỗ trợ Nhà nước, giúp anh em văn nghệ nghèo, có được đồng nào in tác phẩm thì đỡ đồng nấy. Hãy nghĩ đó là tiền hỗ trợ xúc tác chứ không phải có tiền mới sáng tác. Dân văn nghệ, đi thực tế không ai đi một mình. Vì thế mới có chuyện thực tế, trại viết.
- Anh in “Lai lịch một thành hoàng” năm 1992, có hỗ trợ không?
- Không.

- Nhưng hay…
- Đúng.
- Cuốn mới đây của anh “Nghe vọng tiếng đồng”, có đá đến chuyện văn xuôi Quảng Nam vẫn mòn nhàm…
- Ừ. Tôi viết truyện “Truyện đốt theo sông”, in Văn Nghệ, đó là truyện có đổi mới cách viết, rứa mà không nghe bạn đọc nói chi. Thiệt chẳng biết ra răng. Tôi không biết bạn đọc bây giờ là ai.
-Nghĩa là đọc và viết mới, bây giờ là khó?
- Ừ. Mà nhiều chuyện lắm, lạ, không hiểu được. Ví dụ như giải thưởng Văn học - Nghệ thuật vừa rồi, thơ Huỳnh Minh Tâm không có giải. Rồi tập “Phía sóng” của Phạm Tấn Dũng từng được đem ra hội thảo, được khen nhiều, rứa mà không có giải. Mà không, anh em cũng không câu mâu chi chuyện đó.
- Anh có giải mà?
- Ừ, khuyến khích. Thời gian đó tôi không dám vào Tam Kỳ, sợ dị nghị là “chạy” giải. Anh Tiêu Đình nói đúng: Không có sơ khảo là không được. Phải có người đủ tư cách loại tác phẩm yếu từ vòng ngoài chứ!

Nhà văn Lê Trâm hiện là Chi hội trưởng chi hội văn học, Hội Văn học - Nghệ thuật Quảng Nam. Quê quán: Quế Phú, Quế Sơn.
Tác phẩm: Lai lịch một thành hoàng - tập truyện ngắn, 1992; Tý cô nương - truyện vừa, 1994; Bức tranh gửi lại - truyện vừa, 1996; Tìm lại thời gian - tập truyện ngắn, 1999; Mơ về phía chân trời - truyện vừa, 2004; Một giấc hồ điệp - tập truyện ngắn, 2007; Nghe vọng tiếng đồng - tiểu luận và tạp văn, 2010.
Lê Trâm đã đạt được nhiều giải thưởng văn nghệ trong và ngoài tỉnh.

- Tôi đọc “Lai lịch một thành hoàng”, nghĩ ông này hiền lành vui tính rứa mà cho nhân vật mình bị bóp cổ đến chết. Kinh. Sao về sau văn anh hiền lành quá?
- Có lẽ do không khí xã hội. Đó là thời kỳ bắt đầu đổi mới. Đó cũng là lúc vợ tôi sinh đứa con đầu. Cực lắm. Cực, nên viết hay. Sau này sướng hơn, lại viết không hay.
- Nông thôn đang thay đổi từng ngày. Nhưng, ẩn chứa bên trong sự phát triển đi lên ấy là tâm trạng bất an, những rạn vỡ nguy hiểm. Tại sao văn học Quảng Nam xa lánh nông thôn?
- Tôi nhớ có lần ông Nguyễn Chí Trung về ngồi tại đây, cứ nói đi nói lại chuyện hợp tác xã với bao nhiêu khê của nó. Rồi tôi nghĩ nhiều về chuyện đất đai. Đất đai bây giờ khác ngày trước. Nhưng viết hay không được. Có lẽ do chưa đủ tư liệu.
- Chuyện về hợp tác xã, bây giờ thừa sức viết chứ, xa lắc rồi mà…
- Sự dịch chuyển hợp tác xã ngày trước nhập vào cơ chế bây giờ lại chứa trong mình nhiều khuất lấp. Thấy đấy, nhưng không gọi được tên đầy đủ. Nông thôn bây giờ khá hơn nên có lẽ thấy ít bức xúc, vì thế dễ bị trượt trong cái nhìn, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy. Đây, ví dụ con đường trước nhà tôi, tây ba lô đạp xe đi du lịch làng quê, nhưng người dân ở đây lại bỏ quê đi ra phố. Đúng, đó là nghịch lý, phải viết để cảnh báo, rằng nên ở lại, bởi đã mất  là mất hết. Kinh tế phát triển, đời sống khá hơn, nhưng thay vào đó là sự trì trệ của văn hóa.
- Áp lực trên lấn vào cả sáng tác?
- Đúng, hoang mang, tôi cũng hoang mang. Tôi có cảm giác văn học Quảng Nam về đề tài nông thôn là chưa tiếp cận được.
- Anh còn theo đuổi văn học thiếu nhi không?
- Không. Viết về thiếu nhi bây giờ là khó. Tại sao? Thiếu nhi bây giờ nó khác, tâm hồn nó là “quê hương tuổi thơ tôi” à? Không. Sách, ti vi, máy tính đã thay thế khung trời tuổi thơ.
- Vậy tại sao Nguyễn Nhật Ánh viết và bán chạy?
- Không hiểu.
- Đọc Nguyễn Nhật Ánh, anh thấy sao?
- Vẫn vậy. Ánh viết đúng đối tượng. Nếu không đúng đối tượng thì cũng đoạt giải thưởng văn học ASEAN năm nay với cuốn “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”, viết cho người lớn trên cái nền trẻ thơ.
- Anh đang viết gì?
- Một tiểu thuyết về đề tài giáo dục.
- Anh có thấy mình cũ đi không?
- Có, dù tôi cố gắng làm mới. Tôi hay đọc bạn viết trẻ. Tôi không học văn nên “tiếp cận” văn nhanh, vì không bị ì. Ví dụ tôi phát hiện, làm thơ, viết văn trẻ mà hay mấy năm qua là sinh viên tốt nghiệp mỹ thuật như Ly Hoàng Ly, Châu Giang, Nguyễn Ngọc Thuần, Vũ Đình Giang. Họ đem tư duy hình tượng bổ vào văn học, thế là hay.
- Mỗi nhà văn đều bị “ám” bởi một dạng nhân vật . Với  Lê Trâm thì sao?
- Tôi không xây dựng hệ thống nhân vật đến mức bị ám. Ai cũng được. Đó là điều hay. Nói chuyện chi cũng được. Nhưng đó cũng là điều dở.
- Vì như thế, anh sẽ không đi đến tận cùng của mọi chuyện.
- Có thể...
Vợ chồng anh tiễn tôi về, sau khi ý đồ rủ ở lại nhậu bất thành. Vợ anh bảo, tưởng em ở lại, nhà chị nhiều gà lắm, nhưng nó kêu như vẹt “Khách. Khách. Khách”...

TRUNG VIỆT (thực hiện)

(4) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TẠP CHÍ ĐẤT QUẢNG THÁNG 12 NĂM 2011

 

Văn:

Cuộc cờ- Truyện ngắn Nguyễn Tấn Ái- Bộ đội thời bình - Hà An- Mưa nắng vùng biên- Đặng Trương Khánh Đức- Hôn ước-  Hà Ngọc Vân- Vết ngứa- Truyện ngắn Tiêu Đình

Thơ:

Các tác giả:

Trần Văn Lợi- Nguyễn Hưng Hải- Nguyễn Tường Thuật- Phạm Phú Hưng- Phạm Ánh- Trần Tịnh Yên- Dương Nguyên Hùng- Nguyễn Thiện Đức- Nguyễn Loan- Trần Quang Phong- Vũ Khắc Tĩnh- Nguyễn Đại Bường- Alăng Văn Gáo- Phạm Minh Châu- Nguyễn Hải Triều- Đỗ Văn Khoái- Sơn Thi- Nguyễn Trung Bình.

Nhạc:

Bến đỗ yêu thương - R’Tuân

Tây Giang gọi xuân về- Xuân Thắng

Văn học nước ngoài:

Ông lão và cây cổ thụ- Gia Chính - Trung Quốc- Vũ Phong Tạo dịch

Nghiên cứu -Lý luận- Phê bình:

Về đề tài người lính trong thơ - Bùi Việt Phương

Bút pháp nghệ thuật trong” Mât của trời rồi gió cũng mang đi”-Yến Thanh

Lục bát “rin” của Nguyễn Bá Hòa- Nguyễn chiến

Một cái tôi đa ngã- Huỳnh Thị Thu Hậu

Màu rêu trắc ẩn- Nguyễn Mậu Hùng kiệt

Những “nhánh rêu thơ “ tươi tắn- Phan Chí Anh

 

Các bài khác: Bàn góp đôi lời về phần kết của truyện “Tấm Cám”- Phạm Phù Sa

Góp phần đọc hiểu văn bản “Hồi hương thư” trong sách Ngữ văn 7- Trầm Thanh Tuấn

 

 

(6) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

THÔNG TIN VỀ VIỆC XÉT TẶNG THƯỞNG VHNT ĐẤT QUẢNG NĂM 2011 VÀ TUYỂN THƠ VĂN QUẢNG NAM 1997-2012

I. Về việc xét tặng thưởng VHNT Đất Quảng 2011- mảng Văn học:

- Đối tượng: Hội viên Hội VHNT Quảng Nam

- Điều kiện: Sách in và nộp lưu chiểu từ tháng 12 năm 2010 đến hết  tháng 11 năm 2011

- Thể loại: tập truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết, thơ, nghiên cứu, lý luận phê bình, tản văn, tạp văn... của một tác giả hoặc nhóm tác giả.

- Mỗi tác phẩm dự thi gởi về văn phòng Hội ( 5 Nguyễn Chí Thanh- Tam Kỳ- Q. Nam ) 5 bản để chuyển cho Ban thẩm định.

Thời gian: Từ ngày 1 đến 10 tháng 12 năm 2011. Các tác giả liên lạc với nhà thơ Phan Chín, thường trực Hội đồng, để đăng ký dự xét tặng thưởng.

Sau thời hạn trên Ban tổ chức không nhận tác phẩm nữa.

II. Về tuyển thơ văn Quảng Nam 15 năm.

Đến nay đã hết hạn gởi bài nhưng có khoảng 10 hội viên chưa gởi tác phẩm hoặc gởi thiếu thông tin về tác giả do vậy Chi hội văn học nhắc lại một số nội dung các hội viên cần gởi gấp:

1. Tác phẩm: Văn xuôi: gởi 1- 3 tác phẩm. Thơ: gởi 1-5 tác phẩm.

Văn xuôi gởi về: letram.tieukhe@gmail.com

Thơ gởi về: phanchianh@gmail.com

2. Mỗi tác giả gởi kèm lược thuật quá trình sáng tác và 1 file ảnh tác giả. Gởi về phanchianh@gmail.com

Tác phẩm, lược thuật quá trình sáng tác và file ảnh gởi riêng.

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ BUỎI HỌP MẶT CÁC CÂY BÚT TRẺ QUẢNG NAM

Trước cơ quan Hội VHNT QNam

Cuộc hội ngộ của nhiều thế hệ

 

Văn Gáo - Huỳnh Yên - Sông Hoài - Đỗ Th ThếToàn cảnh buổi gặp mặt

Nguyễn Thị Hồng Phong ( Bắc Trà My)- Văn xuôi- Tặng thưởng truyện ngắn hay năm 2010 của tạp chí Đất Quảng

Những niềm hy vọng của văn học QN( Người ngồi bên trái là Cẩm Giang - sinh viên ĐH Quảng Nam- tác giả của Lối thoát in trên Lao động chủ nhật)

 

 

 

(2) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

KẾT NỐI THẾ HỆ ( VỀ BUỔI GẶP MẶT CÁC CÂY BÚT TRẺ QUẢNG NAM SÁNG 5/11/2011)

Sau một thời gian khá dài không biết phải làm gì để tập hợp đội ngũ những người viết trẻ trong tỉnh lại, sáng 5/11/2011 Chi hội văn học đã tổ chức được một buổi gặp gỡ giữa hai thế hệ cầm bút ( tất nhiên là không thể đầy đủ) đang sống trên mảnh đất " chưa mưa đà thấm". khá nhiều ấn tượng để lại sau buổi gặp mặt ấm áp này. Có thể động thái này sẽ bắt đầu cho những hoạt động khác thiết thực hơn nhằm phát hiện và bồi dưỡng những người viết trẻ. Xin giới thiệu bài viết mới nhất của Bảo Anh in trên báo Quảng Nam số cuối tuần ( Riêng phần ảnh sẽ cập nhật sau)

Kết nối thế hệ

Chủ nhật, 13 Tháng 11 2011 10:14

Lần đầu tiên kể từ ngày tái lập tỉnh, một cuộc gặp mặt giữa một số tác giả văn học trưởng thành trong giai đoạn trước năm 1997 với các tác giả thế hệ 8X, 9X chưa phải là hội viên Hội VHNT Quảng Nam đã được tổ chức hồi đầu tuần này. Nhà văn Lê Trâm, Chi hội trưởng Chi hội Văn học, người chủ trì buổi gặp mặt đã tỏ ra lạc quan: “Thật bất ngờ khi các bạn đến đây một cách đầy đủ như thế này. Có lẽ từ lúc này trở đi, chúng tôi không còn cô đơn nữa, nỗi lo hẫng hụt về một thế hệ kế tiếp cũng vơi đi vì sự có mặt của các bạn đã thể hiện được tình yêu với văn chương...”. Cùng tham dự cuộc gặp, các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Tam Mỹ, Phùng Tấn Đông, Nguyễn Tấn Sĩ... lại bày tỏ sự “ghen tị” vì suốt thời gian là “tác giả trẻ”, các anh không có cơ hội được ngồi cùng những người đi trước để nói về tình yêu văn chương và khát khao sáng tạo. “Đừng kỳ vọng chúng tôi sẽ bày cho các bạn cách viết văn, vì với nghề đặc biệt này rất khó để nói ai là thầy của ai. Tuy nhiên, ngược lại, sự có mặt của các bạn ở đây lại là một… bài học cho chúng tôi, bài học về sự chân thành, cầu thị và về một tình yêu văn chương có thật” - nhà thơ Phùng Tấn Đông nói.

Những cây bút trẻ như Huỳnh Yên, Nguyễn Thành Giang, Huỳnh Định, Nguyễn Thị Cẩm Giang... đã không ngần ngại khi nói rằng mình khao khát có một sân chơi “mở” và công bằng ngay chính trên “sân nhà Quảng Nam”. Có người còn bày tỏ sự tiếc nuối vì nhiều khi họ phải viết trong sự hẫng hụt, đơn độc bởi sự xa cách thế hệ. Tác giả trẻ Nguyễn Thị Trà Nguyên khoe rằng mình viết khá nhiều nhưng viết xong thì đem cất vì không biết chia sẻ cùng ai nên cuộc gặp mặt này có giá trị “hơn một lời động viên”. Cây bút văn xuôi Nguyễn Thị Hồng Phong ở vùng cao Trà My cảm thấy không còn đơn độc trong cuộc chơi văn chương lắm. Tác giả trẻ người Cơ Tu duy nhất trong cuộc gặp mặt, Alăng Văn Gáo, tâm sự rằng mình hạnh phúc khi được chia sẻ kinh nghiệm và sẽ tận dụng tối đa năng lượng cảm xúc để sáng tác, không để trở thành một người “đứng cho đẹp đội hình”.

Đặc biệt, hai tác giả trẻ Sông Hoài và Huỳnh Định đặt giả thuyết, nếu cách đây 5 - 7 năm thế hệ những người đi trước của văn học Quảng Nam tổ chức được một cuộc gặp gỡ tương tự thế này thì có lẽ họ đã không hoang phí niềm đam mê của mình. Ngẫm lại mới giật mình bởi trước đây, văn xuôi Quảng Nam từng có một Huỳnh Định chín chắn, lý trí và một Sông Hoài đa cảm, mượt mà. Nhưng vì không nhận được một động thái thể hiện sự khích lệ nào từ phía những người đi trước, họ đã lặng lẽ sang ngả rẽ khác.

Lâu nay, trên một vài diễn đàn, đã có người bày tỏ quan ngại về việc văn học Quảng Nam thiếu vắng lực lượng kế tục. Nhưng phía sau những cây bút trưởng thành, đã và đang có khá đông đảo những cây bút trẻ có trình độ, có nghề và tâm huyết. Vấn đề là ở chỗ biết kết nối thế hệ, động viên, khuyến khích họ mạnh dạn bước vào cuộc chơi, như cách mà Chi hội Văn học vừa làm.

BẢO ANH

 

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TẠP CHÍ ĐẤT QUẢNG SỐ 92- THÁNG 11-2011

Văn:

Hạ bệ người hùng- Ninh Đức Hậu

Rừng gọi- Trần Phú Yên

Mưa đầu mùa - Trần Quỳnh Nga

Nhớ lại một thời- Hò Xuân Tịnh

Bánh xèo của mẹ - Nguyễn Thành Giang

Thơ: Các tác giả:

Trương Vũ Thiên An- Nguyễn Bá Hòa- Mai Bá Ấn- ngô Hà Phương - Mai Thanh Vinh- Đỗ Thượng Thế - Huỳnh Minh Tâm- Phương Dung- Ngô Thị Thục Trang- Nguyễn Đông nhật- Nguyễn Đức Dũng- Nguyễn Tấn Sĩ- Đinh Huyền- Nguyễn Giúp- Lâm Quỳnh

Nhạc:

Làng Rô mình đấy - Nhạc& lời Nguyễn Văn Tám

Lời yêu thác đổ- Nhạc &lời Trần Cao Vân

Dòng chảy văn hóa:

Ru mãi theo đời- Tường Linh

Nghiên cứu-Lý luận-Phê bình:

Con trâu trong nghệ thuật điêu khắc của người Cơtu-Nguyễn Văn Sơn

“Dấu chân” trên “ Đường chữ”..- Nguyễn Hữu Vĩnh

Sự vận động quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên- Võ Như Ngọc

Trà dư tửu hậu:

Từ Rap/ Hiphop đến thơ Tân hình thức - Nay Thơ

Văn học - Học văn:

Thơ của các tác giả: Vũ Xuân Quản- Trần Văn Luận- Lý Thị Minh Châu - Trần Văn Lợi

 

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TỌA ĐÀM VỀ HAI TẬP THƠ CỦA NGUYỄN BÁ HÒA VÀ NGUYỄN TÂN SĨ

alt

Sáng 12/11/2011, tại hội trường Hội VHNT tỉnh Quảng Nam ( số 5 Nguyễn Chí Thanh - Tam Kỳ- Quảng Nam) Chi hội Văn học - Hội VHNT Quảng Nam tổ chức tọa đàm về hai tập thơ: Thuyền hạnh - Nguyễn Bá Hòa và Màu rêu lục bát - Nguyễn Tấn Sĩ. Ngoài hội viên văn học, buổi tọa đàm còn có mặt nhiều bạn yêu thơ văn trong tỉnh.

Buổi tọa đàm có các tham luận của các nhà thơ: Phùng Tấn Đông, Nguyễn Mậu Hùng Kiệt, Phan Chín, Huỳnh Minh Tâm, Nguyễn Chiến, Huỳnh Thị Thu Hậu v.v

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

Ở ẨN (phần cuối)- Truyện ngắn Lê Trâm

Ngay hôm sau tôi bỏ việc.

Nửa tháng sau tôi xin làm hợp đồng sàng than cho một bãi than, lương tháng hơn trăm ngàn. Tôi lặng lẽ, cẫn mẫn làm việc, không giao du, không bàn luận chuyện đời với bất kỳ ai.  Dưới mắt mọi người tôi là gã khờ, khờ nhất trong những thằng khờ. Cái đầu đại học và mảnh bằng vô tích sự được quẳng vào sọt rác đúng lúc bởi tôi đã có được sự lựa chọn cho riêng mình. Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi biết lựa chọn. Nhưng, lại đến phiên cái đầu đi “ở ẩn”. Tôi sống yên ổn và có vẻ đàng hoàng hơn. Cũng tham ăn, ham uống, ham tiền bạc, cũng biết bon chen chụp giật như thiên hạ. Anh họ tôi và thằng Cu vẫn ở công trường. Một bữa tôi nhận được thư thằng nhỏ. Thư nó viết bằng lời lẽ tỉnh khô:"Anh Tâm! Em đã đâm thằng Sửu mấy nhát dao. Hắn ... hiếp con bé Lam!” Tôi giật mình và không khỏi ngạc nhiên. Chuyện kinh khủng vậy mà nó nói tỉnh như không. Và, CON BÉ! Ra là thằng bé đã lớn và biết xử sự đáng mặt đàn ông hơn tôi nhiều!

Năm sau, tôi cưới vợ, một cô gái câm và làm nhà ở luôn trong khu mỏ. Vợ tôi là một cô gái khá đặc biệt. Tôi chọn cô ấy có lẽ vì cô ta không quấy rầy tôi như bao người khác. Cô là người duy nhất quý trọng những cuốn sách tôi hay đọc. Nhiều lúc cô cứ lặng lẽ, trìu mến nhìn tôi cặm cụi ngồi viết trong nỗi khó khăn của một kẻ không biết tự lượng sức mình. Tôi đang tập viết văn và đây là câu chuyện đầu tiên gởi đến bạn đọc. Đừng quan tâm tới chuyện văn vẻ, chỉ xin các bạn trả lời hộ dùm rằng tôi có đáng trách lắm không, những ngày ấy?

 

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

Ở ẨN (7)- Truyện ngắn Lê Trâm

Trưa hôm sau tôi nhặt được một mảnh giấy đặt trên giường của mình. Mấy chữ nguệch ngoạc thật khó đọc. HẸN GẶP MẦY 12 GIỜ KHUA(KHUYA ) TRÊN ĐỈN ( ĐỈNH) ĐỀU( ĐÈO). Tôi vò nát mẩu giấy, bỏ vào miệng nhai. Thằng Cu bước vào lán, đến cạnh tôi thì thầm:’ Thằng Sửu định giết anh! Hắn mài con dao sắc lẻm” Tôi cười khẩy, vỗ vai nó: “ Kẻ thắng là anh chứ không phải hắn đâu. Chú em yên chí!” Giọng có run run:” Có chuyện gì chắc Lam chết mất!” Tôi cười:” Nhảm! Ai bảo với chú em thế?” “Em biết mà”.” Chú em biết đếch gì!”. Thằng nhỏ nài:” Không, em biết thiệt mà”. “ Thôi được, tối nay chú em làm trọng tài giúp tụi tao được không?” Nó gật đầu, chưa hết sợ hãi.

Lúc tới đỉnh trăng đã xê xế lưng đèo. Sáu Sửu và thằng Cu đang ngồi chờf. Thấy tôi Sáu Sửu độp ngay:” Xóa lời thỏa thuận trước đây đi. Như thế ngài cử thiệt quá!”. Tôi tiếp lời hắn:” Ông muốn gì, nó đi?” Hắn thò tay ra sau lưng rút cặp dao sáng lóe. “Phải thử sức thôi! Thằng nào thắng được con bé. Tao thua, biết mày thêm ba tháng lương không bớt một xu!”. “ Khôgn cần lương lẹo. Đấu tay đôi, ngang sức!”. “ Không, tao thích thế! Để mày biết tao cũng anh hùng như ai!”. Tôi gật: ”Thôi được, xin mời anh hùng!”. Sáu Sửu hất hàm về phía thằng Cu: “ Mày làm trọng tài, hử?”. Thằng nhỏ đứng bật dậy, bước tới gần. Sáu Sửu nói: “ Thằng nào ăn ba vết hoặc gục trước là thua. Mày chọn dao đi!”. “ Xin mời ông anh chọn trước,để gọi là bù vào ba tháng lương kia!”. Sáu Sửu lẳng lặng bước tới trước hai bước, lấy chân đè lưỡi một con dao. Con dao nẩy lên, nằm gọn trên mu bàn chân. Hắn hất chân, con dao tung lên, hắn đưa tay bắt gọn. Tôi cúi xuống cầm condao còn lại. “ Anh Tâm, coi chừng!”, thằng Cu kêu lên. Tôi ngã ngwoif lăn một vòng. Lợi dụng lúc tôi cúi xuống lượm dao Sáu Sửu đã lia một dao tạt ngang sườn tôi. Giận dữ vì đòn dao hụt Sáu Sửu nhìn thằng Cu như muốn nuốt sống. “ Mày mà kêu lần nữa tao đâm lút tim!” Tôi dạng chân thủ thế. Sáu Sửu múa dao vù vù. Hắn đúng là dân giang hồ đầy số má chứ không phải hư danh. Hắn to xác, khỏe hươn tôi nhiều. Nhìn hắn tôi không khỏir chợn. Được cái, bảy tháng nằm chòi vịt tôi được sự thanh thản và bình tĩnh hươn hắn. Mấy miếng võ gia truyền ông cậu truyền lại không biết có đủ để đối phó với Sáu Sửu? Sáu Sửu đột nhiên vung dao chém ngược lên. Tôi nhảy lui một bước, nương theo hướng chém, vòng qua trái lia một vòng dao ngang đùi Sáu Sửu. Hắn co chân đứng thế kim kê độc lập, cứ thế tạt dao theo cánh tay tôi vừa chém vút qua. Lưỡi sao sướt nhẹ cánh tay tôi. “Một”. Thằng Cu mặt tái nhợt líu ríu lặp lại lời Sáu Sửu. Tôi chập hai tay vào chuôi dao, cứ thế bổ mạnh xuống đầu Sáu Sửu, nửa chừng đường dao tôi chuyển sang tay trái chém vào hướng lặn tránh đòn của hắn. Lưỡi dao trượt qua vai hắn kéo theo một mẩu áo. Máu thấm ướt vai Sáu Sửu. “ Huề!”. Sáu Sửu thoáng sửng sốt. Tôi chỉ chờ có thế, nhanh nhẹn tung hai chân đá phóc lên. Con dao lăn lông lốc. Sáu Sửu thối lui mấy bước liên tiếp, mắt nhìn như găm vào lưỡi dao trên tay tôi. Hắn gầm lên:” Đ.M! Ông xé xác mày!” Tôi cười gằn:’ Khoan đã, ôngbanj!:. Tôi ném dao cho thằng Cu, tay không bước tới đối diện Sáu Sửu. “ Mày khinh ông hả?” Tôi khích:” Sức mày tao chẳng cần đến dao!”. Sáu Sửu điên tiết,lao đầu húc vào bụng tôi. Con thú say mồi rồi đây! Tôi lui lui, né né. Sáu Sửu hùng hổ đấm, đá, quật túi bụi. Tôi vã mồ hôi né đòn. Lợi dụng một miếng đòn hụt của hắn, tôi chém mạnh vào cánh tay hắn. Sáu Sửu rên lên, thối lui mấy bước, vấp phải hòn đá trượt dài. Tôi nhảy bổ lên người hắn. Hai thằng đàn ông ôm nhau lăn xuống triền dốc. Vừa lăn tôi vừa luồn tay đè nagng cổ hắn. Sáu Sửu co đầu gối hất lên. Đòn hiểm bất ngờ trúng ngay dái khiến tôi đau dựng tóc. May mà tôi ôm hắn khá chặt nếu không chắc đã lụy mất rồi! Tôi trở mu bàn tay quật liên tiếp vào miệng hắn. “ A, á!”, Sáu Sửu thở hồng hộc vội buông tôi ra. Chợt tôi lạnh người khi thấy con dao đã nằm gọn trong tay hắn. Chưa kịp định thần lưỡi dao đã găm vào đùi tôi đau nhói. Thêm một nhát nữa ngay sườn. “ Hai! Ba! Thôi, dừng lại!”, thằng cu hét lên. Sáu Sửu vẫn múa dao vùn vụt. Hắn muốn thịt tôi thật rôi! Tôi liều lĩnh híc mạnh đầu vào bụng Sáu Sửu. Hắn buông dao, loạng choạng lui lại sau mấy bước rồi ngã ngồi xuống đất. Tôi quệttay cùi máu miệng, lững thững đi tới trước mặt hắn. “Sáu Sửu! Mày hèn quá! Tao chịu thua cái hèn hạ của mày. Thôi được, mày làm gì được con bé thì cứ làm, tùy mày!”

Tôi thất thểu bỏ đi. Thằng Cu hớt hải chạy theo sau. ( còn tiếp)

 

(1) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

Ở ẨN (6)- Truyện ngắn Lê Trâm

Một đêm, tôi đang ngồi tán vớ vẩn chuyện thơ văn với Lam thì Sáu Sửu bước vào. Hắn nhìn tôi trừng trừng. Đột nhiên, hắn thò tay vào bụng móc con dao phóng ngập xuống bàn. “ Thằng nào phổng tay trên ông cắm lút dao vô ngực!” Tôi hiểu Sáu Sửu muốn gì nên ngồi im. Lam hốt hoảng nhổm dậy. Tôi chụp tay con bé:” Em cứ ngồi yên!”. “ Em sợ!” “ Chẳng việc gì đâu!”. Tôi nháy mắt với Sáu Sửu. Hắn bỏ ra ngoài. Tôi bước theo. Lam níu tay tôi:’ Đừng ra, anh!”. Tôi cười:” Chuyện đàn ông em xen vào làm gì?” Con bé nhìn tôi như muốn khóc. Mãi sau này tôi mới hiểu con bé nghĩ gì lúc ấy. Sáu Sửu tựa lưng vào một tảng đá, chờ đợi. “ Ta thỏa thuận đi!” Hắn hất hàm:’ Thỏa thuậncais con mẹ gì?” “Tôi và ông không đứa nào được đụng vào con bé ấy, được chưa?”. “Mày nói dễ nghe quá. Nó là của tao! Chính tao thấy nó tắm trần truồng dưới suối trước mày. Kkhông có thằng anh chết tiệt của mày nó đã... Đ.M cái thằng trời đánh!”. Sáu Sửu liếm mép. Tôi tởm quá muốn thoi ngay vào mặt nó môt thoi cho hả giận. “ TôI chịu trả hết tiền quán cho ông ngày nào con bé còn ở đây, được chưa?”. Sáu Sửu ngạc nhiên, mở to mắt nhìn tôi:” Mày ngon ghê! Thế mày định sống bằng gì?” . “Cái đó kệ tôi, ông không cần biết!”. Sáu Sửu lắc đầu:” Để tao nghĩ đã”. Hắn bỏ về phía suối, lầm lũi như một con thú dữ.

Thằng Cu, không hiểu sao lại thích đeo theo tôi như cái bóng. Nhiều lần hắn lẳng lặng ngồi nghe tôi và Lam tán gẫu. Thỉnh thoàng liếc nhìn con bé, mắt chơm chớp. Nó là thằng ít nói nhất đội, lặng lẽ và lầm lì suốt ngày. Một thứ sinh linh vật vờ, không ít lần tôi nghĩ về hắn như thế. Nhỏ nhất, nó trở thành loong toong của cả đội. Sáu Sửu đối xử với nó như đứa ở, sai ý là bợp tai ngay. Nhìn cung cách nó nhìn ngắm, đối xử với Lam tôi kết luận: Nó mê conbes mất rồi! Không khéo nguy với thằng Sứu chứ chẳng chơi. NHiều lần tôi định nhắc nó dè chừng Sáu Sửu nhưng cứ quên béng.

Một đêm nắng oi. Không ngủ được, tôi lửng thững ra suối. Trăng mờ ảo, lung linh bóng lau. Cởi hết áo quần, tôi men theo dòng nước bò ngược lên. Cái khoái cảm trần trụi mơnman da thịt. Tôi chuồi hết cả người dưới nước như con rắn trườn đi. Có tiếng róc rách phía trước. Tôi sững sờ khựng lại, người bỗng nóng ran. Giữa khoảng suối rộng một đứa con gái đang tắm. Cô gái vốc nước lên, xoa khắp người. In trên nền đêm, dáng cô gái đẹp đến nao lòng. Lúc cô gái vòng hai tay trước ngực trông chẳng khác Nữ Thần Cụt Tay. Cả một vùng không gian chợt im sững. Co gái vẫn quay lưng về phía tôi, mải mê đùa nghịch với nước. Trăng bỗng chui ra khỏi đám mây, in lên nền lá một bóng người. Tôi  nổi da gà. Sáu Sửu, nguy rồi! Sáu Sửu rón rén bò tới như con báo rình mồi. Mà không phải chỉ một mình nó! Phía bờ đối diện xuất hiện một cái bóng khác. Hai con thú đang rình một con bé! Tôi lạnh người khi chợt nghĩ ra rằng con bé kia chỉ có thể là Lam thôi. Tôi quýnh quàng lượm cục đá, ném vụt tới. Có tiêngs rú kinh hoàng và một cái bóng lăn ùm xuống nước. Cô gái ré lên, trần truồng ù chạy về phía con đwongf đèo trước mặt. Cái bóng còn lại biến mất. Đêm trở lại u tịch chừng như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Trưa hôm sau tôi nhặt được một mảnh giấy đặt trên giường của mình. Mấy chữ nguệch ngoạc thật khó đọc. HẸN GẶP MẦY 12 GIỜ KHUYA TRÊN ĐỈN ĐỀU ( còn tiếp)

(2) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

Ở ẨN (5)- Truyện ngắn Lê Trâm

Một ngày, giữa lũ quỷ sứ sống cuộc đời ô trọc bọn tôi bỗng xuất hiện một thiên thần. Con bé đẹp và quyến rũ đến mức tôi linh cảm sớm muộn gì cũng xảy ra đại họa. Trước lòng ham muốn của con người Cái Đẹp trở nên bất bình thường và đầy bất trắc. Giữa chốn rừng núi vẳng vẻ và đám đàn ông láo nháo đói đàn bà hơn cả đói ăn sự có mặt của Lam có cái gì đó vô lý đến không hiểu được. Năm học tới Lam lên mười hai. Cô bé lên giúp bà dì mở quán nước. Quán ga đỉnh đèo cạnh một con suối hữu tình ( nhưng trước nay với chúng tôi nó chỉ làm mỗi công việc tẩy rửa những gì xú uế trong người ra!). Con bé hồn nhiên và dễ thương. Cười cười, nói nói. Ríu ra ríu tít suốt ngày. Quen sống như trâu như ngựa chúng tôi thằng nào thằng nấy đâm ra ngỡ ngàng. Thằng nào cũng cố sống ý tứ, đàng hoàng hơn một tí. Lâu nay bọn tôi chỉ nhìn ra. Bây giờ chúng tôi thêm cái nhìn lại chính mình và sửng sốt trước sự đổi thay trong con người mình. Thật cảm ơn cô bé thiên thần! Ông anh họ tôi lo lắng ra mặt:” Chú mày hãy coi chừng! Liệu liệu mà sống nhá!” Tôi ngạc nhiên hỏi:” Sao thế, anh?” “Thì nơi nào xuất hiện đàn bà đàn bà đẹp chẳng xảy ra tai họa. Chú mày khờ như bò con đội nón, anh lo quá” Tôi cười cười:” Anh cứ coi tôi như con nít không bằng!” Ông anh họ lắc đầu chép miệng:” Để rồi mày coi!”

Sáu Sửu như con cọp ngủ quên chợt bừng thức dậy, phấn khởi ra mặt. Ngoài giờ làm hắn cắn quán trăm phần trăm. Mắt hắn cứ hau háu nhìn như dán vào thân thể non tơ và tươi mắt của “thiên thần”. Một lần hắn hất hàm về phía con bé, bảo tôi:” Con bé trông ngon chứ, ngài cử?” Tôi làm thinh. Hắn cười rất đểu:” Có ngày tao sẽ đè ngửa nó ra!” Tôi nhăn mặt: “ Ông đừng nói ẩu! Nó còn con nít mà!” Sáu Sửu cười suýt văng mấy chiếc răng vẩu:” Hô hố! Con nít gì mà nhìn tao ngứa ngáy khắp người không chịu thấu? Hay là ngài cử học hành nhiều quá nên liệt dương mất rồi?” Tôi nổi khùng:’ Ông im đi cho! Đụng vào nó sẽ biết tay tôi!” Sáu Sửu bật dậy, túm ngực áo tôi:” Mày vừa nói gì? Láo với thằng Sáu này hả? Tao giết bây giờ!” Tôi nhìn hắn trân trân, mắt ngầu đỏ:” Thả ra!” Sáu Sửu có vẻ sửng sốt trước phản ứng bất ngờ của tôi, khựng một chút rồi bất ngờ vung tay. Ông anh họ tôi xáp vào ôm lấy hắn:” Thôi mà anh Sáu! Tha cho nó đi!” Sáu Sửu buông tay quay lại nhìn, nhổ nước bọt đánh xoẹt: “ Hừ! Cái thứ trí thức vất giỏ rác còn học đòi ra vẻ ta đây anh hùng!”. Hắn lầu bầu bước ra khỏi quán.( còn tiếp)

 

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

Ở ẨN (4)- Truyện ngắn Lê Trâm

Một đêm, căn chòi tự dưng bốc cháy. Có người phát hiện nhưng sợ quá không dám chạy ra. Lúc ba mẹ tôi sấp ngửa chỵa tới lửa đã gần tàn. Mẹ tôi ngã quỵ, ngất xỉu. Ba tôi bẻ một cành dương gạt đống tro, tìm xác. Thêm mấy người đàn ông vội vàng bươi tìm. Một mảnh da cháy sém lộ ra. Nhiều người rú lên thất thanh. Ba tôi hét:” Ối trời!” và lao vào đống lửa. Hai người đàn ông lao tới ôm chặt lấy ông. “ Thả tao ra! Để tao chết!” Ba bốn người nữa xông vào đè ngửa ba tôi xuống. “Không phải! Con Mực!” Ba tôi rũ người xuống ôm mặt khóc. Cả xóm tản ra tìm xung quanh. Đến gần sáng mọi người kết luận: Tôi đốt chòi và đã nhảy sông! Tôi từ đám dương giữa bơi về như ma hiện đúng lúc mọi người đang chuẩn bị lặn tìm. Mọi người nhìn tôi như quái vật. Không ai nói một lời, lẳng lặng bỏ đi. Duy chỉ có mẹ tôi nhào tới ôm tôi khóc nức. Bà sờ khắp người tôi chừng như muốn kiểm tra xem tôi có mất mát gì không. Tôi bật khóc. Hơn một năm tôi mới khóc được. Khóc thành tiếng.

Hai ngày sau tôi theo người anh họ lên một công trường sống cuộc đời mới. Gọi là công trường cho ngơm chứ thật ra chỉ lèo tèo vài mươi người nhận hợp đồng tu sửa đoạn đường dưới quyền một chủ thầu người Hà Nam Ninh. Công việc khá đơn giản: bạt bớt các vách núi, mở rộng, lấp các chỗ trũng, san bằng và đào mương thoát nước. Dụng cụ chỉ cần cuốc, cúp, xà beng và búa, rổ, ky. Không có nổi một chiếc xe cải tiến. Tất cả công việc phải hoàn thành trước mùa mưa bởi sau mùa mưa lũ đâu lại hoàn đấy. Một mối làm ăn béo bở. Chúng tôi có thể ung dung bước vào thế kỷ mới mà không sợ thất nghiệp! Máu mặt nhất trong đám công nhân có Sáu Sửu. Hắn nổi tiếng dao búa và sát gái, một thứ giang hồ có số má hẳn hoi. Thời còn sống ở ga Đà Nẵng hắn ngủ với hầu hết đám đàn bà con gái quanh quẩn làm ăn dựa vào đám hành khách vạ vật  ngày đêm ở ga. Một lần hắn “ chui lộn” vào mùng một hành khách đang ngủ lại chờ tàu giữa sân ga. Thế là sinh chuyện. Hắn rút dao chém cô gái xấu số một nhát rồi dông tuốt lên công trường tình nguyện làm người lương thiện bất đắc dĩ. Một tay giáo viên cấp ba chán những đồng lương bọt bèo của nghề bán cháo phổi mất giá đã vứt phấn, cầm xà beng. Một cậu bé mười bốn tuổi, thằng Cu. Tên thiệt là gì chẳng ai nhớ, cứ thằng cu mà gọi, chết thành tên. Còn lại, láo nháo một lũ lĩ na ná nhau vừa chào đấy đã quên nga sau đấy. Chủ thầu trả lương theo sản phẩmr và điều chỉnh theo đặc điểm từng người. Sáu Sửu cao nhất. Hẳn nhiên. Tới tụi láo nháo kia và tôi. Sau đó, tay giáo viên cùng quẫn. Cuối bảng, thằng Cu. Thằng nhỏ không đủ ăn nên thường ăn ghé chúng tôi. Sáu Sửu khá hơn nên ăn chơi bạt mạng. Lên đây hắn rầu quá bởi làm gì có gái gúng chốn rừng thiêng nước độc. Vày vò cô chị nuôi bốn mấy tuổi ế chồng riết rồi hắn cũng đâm ớn. Hắn sinh ra thích đánh nahu. Uống rượu vào là thế nào cũng có chuyện. Ngày nào cũng như ngày nào. Tôi ngứa mắt định bụng sẽ cho hắn một bài học. Giận quá cứ nghĩ vậy thôi chức dễ gì cự nổi hắn. Ông anh họ, người đưa tôi đến nơi khỉ ho cò khẹt này vái dài:” Tôi lạy chú! Coi chừng có ngày nó lụi dao vô sườn!” Tôi cười khẩy, nói cứng:” Hèn như các anh thảo nào hắn chẳng lấn tới!”. Ông anh họ lắc đầu:’ Chú mày chưa hiểu chi về cuộc đời cả!” Tôi bĩu môi:” Chắc gì?” Nói xong tôi cắp tay sau đít bỏ đi, lòng vẫn nung nấu ý định dằn mặt Sáu Sửu một trận.

Lão chủ thầu có vẻ khôngtin tưởng tôi mấy. Lão thường nhìn tôi với cặp mắt dò xét. Một bữa đang ăn cơm chiều lão chủ bảo tôi:

-Kể từ mai ông Tâm ăn định mức như ông Hải nhé!

Tôi trượn mắt:

-Sao có chuyện kỳ cục vậy?

-Nghe nói ông có bằng xử nhơn mà...

-Bằng cấp thì dính dáng gì ở đây?

-Cử nhơn thì ăn ngang với thầy giáo chứ!

-À thì ra thế! Có nghĩa trí thức thì tồi hơn bọn vô lại kia hay sao?

Lão chủ thầu cười nhăn nhở:

-Tôi chỉ trả theo kiểu Nhà nước thôi. Làm sao dám chơi trôi hả ông?

-Mà tôi làm có thua ai đâu nào?

Bí thế lão chủ nổi cáu:

- Tôi thích thì trả thế đấy, ông có làm thì làm! Nếu không, tôi gọi người khác. Đ. M. Cử nhơn là cái đ. gì mà đòi lên mà lên mặt dạy đời ông!

Yếu thế, tôi nín thinh. Miếng cơm nghẹ ứ trong miệng, tôi phun đại ra đất. Lũ chó bâu vào cắn nhau chí chóe. Tôi đá vào mõm con chó gần nhất, bỏ đũa đứng dậy. Mẹ kiếp! Lẽ nào cái bằng đại học đã trở thành cái án treo? Tôi từng là đứa học sinh duy nhất của lớp mười hai A ngày ấy được vào đại học. Đường vào tương lai rộng mở, mời đón. Tôi chả có gì phải lựa chọn bởi Nhà nước đã lựa chọn thay. Không lẽ lại bỏ đại học đi làm nghề khác? Có mà điên. Tôi phơi phới đâu được vài năm. Ngoảnh lại, bè bạn đứa nào đứa nấy thu nhập ào ào. Xây nhà. Lên xế. Có đứa tiền triệu, mặc sức cho vay lấy lãi. Không tốn một giọt mồ hôi. Năm năm sau kỳ thi tốt nghiệp phổ thông tôi lại là thằng thất nghiệp, có tội không? Quái! Lẽ nào thằng học nhiều nhất là thằng nghèo túng nhất? Và thằng tôi vào đại học làm gì để phải xếp cuối bảng phong thần? Tôi bỗng nhớ cái lần gặp Hương gần đâyt. Hương ngôi sau xe Đức, thằng bạn nổi tiếng đần nhất lớp. Chiếc xe bóng loáng  phanh rít trước mặt tôi và Huơng bước xuống. Xinh đẹp. Diêm dúa. Có thời Hương là người yêu của tôi đấy! Hai lần Hương tìm tới chòi giữ vịt khóc lóc, van lạy tôi trở lại với cuộc sống bình thường. Bao nhiêu lời ngọt lành không phải không làm tôi xót xa. Ngày ấy tôi không nghe lời Hương là đúng hay sai? Tôi mất Hương là vì thế?

Đức có vẻ ái ngại nhìn tôi:

-         Sao mày tã đến thế này, Tâm?

Tôi nhăn mặt:

-         Có lẽ tao học nhiều chữ quá nên ngộ!

Đức cụt hứng, nín khe để mặc tôi với Hương trò chuyện. Tôi tự dưng đâm ra lúng túng. Đã nhạt nhẽo đến thế này sao cô gái một thời là người yêu của ta? Tôi nói mà chỉ mong sao câu chuyện sớm chấm dứt. Cuối cùng hai đứa lên xe vù đi, để lại phía sau đám khói đen kịt. Đám khói ám ảnh mãi suốt mấy ngày sau đó. Bây giờ lại hiện ra, mù  mịt( Còn tiếp)

 

(2) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TẠP CHÍ ĐẤT QUẢNG THÁNG 10 NĂM 2011

Văn:

Sẽ không là cổ tích - Truyện ngắn Huỳnh Thị Yên

Miên man Nông Sơn - Ký Lê Trâm

Đồng điệu cùng hoa cỏ may - Sơ Thảo

Nốt ruồi son- Truyện Ngắn Hoàng Nam

Tiếng đờn cò - Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Chương

Thơ:

Các tác giả: Bùi Công Bính- Nguyễn Sĩ Chức- Nguyễn Kim Huy- Nguyên Tiêu- Phú Xuân- Nguyễn Hoàng Sa- Phạm Kim Nhung- Đình Quân- Ng Mậu Hùng Kiệt- Phú Thiện- Huỳnh Ngọc Sáu- Nguyễn Ngọc Phú- Nguyễn Ngọc Hạnh- Trương Đức Tới- Ng Hải Triều

Theo dòng LS:

Người anh hùng của Đường Hồ Chí Minh trên biển- Lê Năng Đông

Bài thơ viết bằng máu của anh Nguyễn Văn Trỗi- Mai Hồng Lâm

Nhạc : Khoảng trống- Nhạc :Ngọc Phước- Thơ Huỳnh  Minh Tâm

Chỉ còn tình yêu thương: Nhac&lời : Phan Văn Minh

Văn học nước ngoài:

 Cik Giok ( Reda Gaudiamo) Võ Hoàng Minh dịch

NC- LL- PB:

Nhiếp ảnh Quảng Nam - từ khẳng định vị thế trong nước đến hội nhập quốc tế- Trần Tấn Vịnh

Về Motip và phản motip qua một số truyện ngắn Nguyễn Quang Lập- Phùng Tấn Đông

Đọc Giữa dòng sông chảy- Huỳnh Minh Tâm

Góc nhìn người trong cuộc:

Nốt nhac ưu tư... Phan Văn Minh

 

(2) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

Ở ẨN (3)- Truyện ngắn Lê Trâm

Một bữa tôi đọc được dòng chữ nghuệch ngoạc trên tấm bảng trước chòi: TẠI ĐÂY CÓ BÁN BÈN ( BẰNG ) ĐẠI HỌC GIÁ RẺ!:  Bên dưới khuyến mãi thêm hình hai cái sinh thực khí lồng vào nhau. Có lẽ, đứa nhỏ nào đó lén viết lúc tôi mải mê đọc sách hoặc lúc tôi ngủ quên. Tôi đá phốc cục đá nằm tước mũi chân rồi lượm mẩu than, viết thêm: VÀ MỘT THẰNG NGƯỜI DỞ HƠI VÔ TÍCH SỰ, 3 CHỈ MIỄN THIẾU CHỊU! Do dự một lúc tôi xóa bớt chữ NGƯỜI, rồi viết đè chữ THỨ lên  chữ THẰNG. Chẳng lẽ tôi không là cái thằng người nữa hay sao? Thế, tôi là cái giống gì? Tôi chửi thề, lượm cục đất, ném vào tấm bảng. Căn chòi rung lên. Tôi bực bội bỏ ra bờ sông. Hay mình cứ chết quách đi cho rảnh chuyện?

Sau bảy tháng tháng nằm đọc sách, nhiều người không còn nhận ra tôi. Tóc tai bù xù. Râu ria rậm rạp. Đôi mắt ráo hoảnh, xa lạ, dửng dưng nhìn mà như chẳng thấy gì. Tôi trở thành một nhân vật bí hiểm ở cái làng hẻo lánh và đang trở thành bí ẩn ấy. Không người cũng chẳng ra thánh thần ma quỷ. Có lẽ cái phần CON trong tôi đã thắng thế. Bảy tháng nằm đọc sách, chiêm nghiệm lẽ đời và nhân tình thế thái, Tôi thêm được gì nhỉ? Hay chỉ một thân xác tiều tụy, một tinh thấnuy sụp? Ba tôi không một lần ra thăm cũng không một lời nhắn. Hay, cái thằng con từng làm vinh hiển dòng họ Lê đã chết, với ông? Nghĩa là tôi đã thất bại. Hỏng thật rồi! Lẽ nào cứ mãi sống thế này? Những bát cơm ngày ngày mẹ tôi bưng ra ai phải trả nợ? Tới một ngày nào đó mẹ tôi không còn bưng được nữa, thì là ai? Tôi rùng mình khi nghĩ đến điều ấy, cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng.

Một đêm, căn chòi tự dưng bốc cháy... (Còn tiếp)

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

Ở ẨN (2)- Truyện ngắn Lê Trâm

Nếu không có trận đau thập tử nhất sinh và lời trối chết của mẹ tôi có lẽ đời tôi đã đi đứt, làm chi có giây phút cảm động này. Rồi cũng đến phiêu bạt kiếm ăn qua ngày như anh tôi thôi. Ngày vinh quy đẫm nước mắt hai người đàn ông dưới căn nhà tranh nghèo nàn giữa một vùng quê xơ xác sao mà ảm đạm. Chừng như muốn dự báo điều chi chẳng lành. Mẹ tôi bán non con heo lứa, gom góp tiền của làm tiệc đãi làng xóm. Tôi ngăn mãi không được đành ngượng nghịulàm anh tân khoa giữa ngày nước hụt, đồng ruộng cháy khát. Cũng máy móc, cũng đàn địch, hát hò nhặng xị... Ba tôi ngật ngưỡng đi hết bàn này đến bàn khác, cụng ly chan chát. Tôi ngỡ mình lui lạikịp thời các cụ Tiên Điền hay Yên Đỗ. Sau một hồi vã mồ hôi tôi lẻn ra sau hè, đứng ngó mông ra đồng, chẳng hiểu lòng mình nghĩ những gì.

Cả mấy tahngs sau tôi chạy đôn chạy đáo cơ quan này, phòng ban nọ. Ai cũng lắc đầu. Nơi nào cũng thừa mứa người ra. Tôi, với mảnh bằng tốt nghiệp loại ưu chưa có gì để chứng tỏ sẽ không trở thành thứ ăn hại sau này. Chẳng có thứ thông hành nào khác giúp tôi đi con đường ngắn và may mắn hơn. Tôi vét sạch túi cả nha, cứ đi về, về đi mà không chút hy vọng bù đắp. Cuối cùng, tôi vất hồ sơ vào tủ, trùm mềm ngủ suốt hai ngày. Ngày thứ ab tôi nói với ba tôi:” Chắc con phải ở nhà thôi, ba à! Làm ruộng cũng được!”. Ba tôi lắc dầu, thở dài:” Hết hy vọng rồi sao con?” Tôi mệt mỏi gật đầu. Ba tôi bỗng trở giọng nổi khùng:” Ruộng nương gì ngữ mày?” “ Rồi sẽ quen ba ạ. Có ai học làm ruộng đâu?” Ba tôi lặng lẽ quấn điếu thuốc lá gắn lên môi rồi bật diêm, bập bập. “Hay là chờ anh mày về? Nó quen biết nhiều?” Nhưng ông anhcứ lặn đâu mất tăm. Tôi ngày ngày vác cuổc ra đồng học việc. Mười mấy năm học hành hại tôi không ít. Chân tay tôi cứ lóng ngóng, chậm chạp, vụng về. “Chà, anh cử  cũng đình cày sâu cuốc bẫm ư?”. “Này, thẳng lưng lên chú cử ơi!” Tôi chỉ còn nước nhăn nhở cười trừ.

Ông anh tôi ở đâu đó tạt về, nghe chuyện liền chìa tay:” Hai chỉ, xong ngay!” Mẹ tôi chạy khắp xóm vay đwocj ít tiền, gỡ luôn đôi bôngtai dúi vào tay anh tôi. Ông anh vù đi. Tuần sau ông anh quý hóa quay về,lắc đầu,lại chìatay:” Chỉ nữa!” Ba tôi vẫn yênlặng. Mẹ tôi tháo nốt chiếc nhẫn cưới. Lúc đưa nhẫn cho ông tôi tay bà rủnẩy, giọng thấm đẫm nước mắt:” Rồi anh em mày lấy chi cưới vợ đây trời?” Sau lần ấy ông anh biệt tăm luôn. Tôi học sang đường cày...

Tôi mệt nhọc vác phần cày còn lại lê bước về nhà. Ba tôi ngồi trước sân. “ Bắt được trâu chứ, ba?” Ba tôi lặng thinh. Chặp lâu ông mới ngước lên:’ Sụn mẹcái móng sau rồi, còn đâu mà cày với bừa?” Ông vất điếu thuốc, giận dữ:” Trăm sự tạimày hết! Mày hạitau như vậy chưa đủ sao Tâm? Sao đời tôi khốn nạn thế này hở trời?” Tôi lặng lẽ chui vô mùng nằm, khôgn thiết cả ăn uống.

Hôm sau tôi dọn ra chòi vịt bỏ phế của cậu tôi trong đám dwong cạnh bờ sông ở. Sửa lại phên vách, thêm bộ bàn ghế tã, ba viên gạch, cái ấm nhôm mất nắp, một chồng sách cũ đủ loại, chòi trở thành một cơ ngơi khá yêntĩnh. Treo thêm tấm bảng: CHỈ TIẾP TRẺ CON VÀ ...CHÓ, tôi trở thành kẻ ở ẩn thật sự. Tôi đóng cửa suốt ngày nằm đọc sách với lời thề độc: sẽ không ra khỏi làng cho đến ngày tắt thở! Mẹ tôi tới bữa lai mang cơm ra , không ngớt lời khuyên nhủ. Tôi cắm cúiăn như kẻ có tội. Té ra khôgn dễ gì tách khỏi cái xã hội ồn ào náo nhiệt và hỗn tạp trongkia. Giờ đây tôi chỉ mong sớm được giải thoát. Nhiều lúc nghĩ lại khôgn hiểu sao mình xuống dốc và hư đốn nhưnh đến thế! Không lẽ chỉ vì mỗi chuyện niềm tin bị đánh mất? Hay đầu óc tôi không được bình thường như thiên hạ? ( còn tiếp)

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

Ở ẨN (I)- Truyện ngắn Lê Trâm

Ở ẨN (I)

 Truyện ngắn Lê Trâm

@Một truyện ngắn dành tặng cho các bạn trẻ tốt nghiệp và thất nghiệp ngay khi mới bước vào đời!

 

 

-         Nắm cho chắc tay cày! Rứa! Đừng có đè! Trật rồi! Đu mẹ ông nội! Ngu thế!

Tôi nổi điên:

-         Ba để từ từ con làm, đừng nói nữa!

Ba tôi nổi khùng:

-Từ từ cái con c. ! Đó, lại trật nữa! Đại học đại hiếc chi mà ngu như bò!

Trút hết giẫn dữ sang phía con trâu, tôi nghiến răng vung roi quất túi bụi. Con trâu lồng lên, rượt tới trước. Tôi rượt nà theo. Chạy lúp xúp.  Nhanh, nhanh. Chuôi cày tuột khỏi tay tay tôi và con trâu được dịp tung chạy, mang theo cả chiếc cày. Ba tôi vứt cuốc lao theo. “ Đốm, Đốm! Hò, hò!” Lưỡi cày cắm vào bờ ruộng rồi “ rắc”, gãy đôi. Con trâu mang phần còn lại chạy miết. Bụi tung mù mịt. Tôi ném cái roi, ngồi phệt xuồng bờ ruộng. Sáu tháng ăn hại của tôi trôi qua chậm chạp, mệt mỏi. Ba tôi, sau khi hiểu ra rằng bao nhiêu công sức của tiền mồ hôi nước mắt đổ ra gần hai mươi năm ăn học của tôi coi như đi đứt, đâm ra bẩn tính. Suốt đời bị ức hiếp, ông những mong tôi, một ngày nào đó, vượt lên khỏi những luống cày, ngẩng cao đầu cùng thiên hạ. Có thế cái dòng họ Lê bé nhỏ mới nở mày nở mặt được. Bao nhiêu mồ hôi đổ xuống mấy khoảnh ruộng nào ai tính cho được. Thức khuya, dậy sớm, quần quật, quần quật. Giành giậtnhau từng chút đất đầu thừa đuôi thẹo, từng phiên cày bừa, từng giọt nước tưới. Chửi rủa, đánh nhau từng ngày một. Làm thì thế mà ăn thì tính từng nhúm gạo, tí rau, chút muối. Mới tối xuống đã vội tắt đèn bởi nhiều khi dầu hỏa còn đắt hơn cả vàng. Trăm thứ dòm chừng vào mấy hột lúa. Cái dòng họ Lê mấy đời độc đinh dồn hết đình dám giỗ quảy xuống đầu ba tôi. Mà tính ông chẳng muốn thiên hạ dè bỉu. Thế mới khốn nạn. Ông nén hết nỗi đau của mình vào trong, cặm cụi làm và làm, trông đợi ngày tôi đỗ tốt nghiệp. Rồi ngày ving quang ấy cũng đến. Ba tôi ứa nước mắt cầm tờ giấy chứng nhận đưa lên ngắm nghía mãi. Tội nghiệp, đến cái chữ ông còn không biết để hiểu dùm tôi rằng cái giấy chứng nhận tốt nghiệp loại giỏi đáng giá ra làm sao! Ông lặng lẽ kéo tôi tới trước bàn thờ. Ông đốt hương, vái bảy vái, lâm râm khấn ông bà, tạ ơn trời đất... Ông bắt tôi vái đủ bảy vái mới thôi. “ Con ạ! Vậy là mày đã làm nở mày, nở mặt dòng họ mà tau cũng tủi hổ với ông bà tổ tiên. Cố gắng sống hco ra con người. Làm người giữa thời buổi điên đảo này thật khó. Đời chó lắm, con ơi! Rồi nhanh nhanh có vợ cho mẹ mày vui. Đời bả khổ vì anh em sắp bay lắm rồi!” Trời ơi! Vậy, mà tôi mấy lần sém bỏ học vì túng bấn và chán đời! Bao nhiêu cuộc vui, bao cơn say nghiêng ngả đất trời, bao nhiêu là tiền bạc như lá cuốn trôi....( còn tiếp )

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

CƯƠNG THỔ - TIẾNG GỌI CỦA ĐẤT NƯỚC, DÂN TỘC

Cương thổ - Tiếng gọi của đất nước, dân tộc

 - "Đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung/ Giáo mác Trường Sơn/ Cọc nhọn Bạch Đằng / đến trẻ chăn trâu cũng cờ lau tập trận......"

Một tác giả lớn tuổi đã gửi sáng tác của ông về với cuộc thi "Đây biển Việt Nam". Cương thổ là một bài thơ xúc động với ý chí đanh thép quật cường, với sự am tường về lịch sử và văn hóa của dân tộc. Hội viên Hội VHNT tỉnh Quảng Nam - ông Nguyễn Đức Dũng - đã viết những vần thơ bằng cả tâm tình và những trải nghiệm quý báu của cuộc đời. Đọc thơ ông, thấy bóng dáng những ý tứ Đất nước - Nhân dân của Nguyễn Khoa Điềm:

"Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn ngàn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước....."

Và hàng chục năm sau, từ tỉnh Quảng Nam - miền Trung thân yêu, khúc ruột của Tổ quốc - đã lại cất lên một tiếng nói lão thành đáng kính trọng thay, đáng tự hào thay.

Mời độc giả VietNamNet cùng thưởng thức bài thơ: Cương thổ

Nguyễn Đức Dũng
Cương thổ

đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung
giáo mác Trường Sơn
cọc nhọn Bạch Đằng
đến trẻ chăn trâu cũng cờ lau tập trận
chiếc roi cày rần rật máu cha ông

đất nước sinh ra huyền thoại tiên rồng
bọc trứng trăm con lên rừng xuống biển
mẹ lội suối trèo non
cha bạt ghềnh chắn sóng
mong mai sau nên vóc nên hình

đất nước quặn đau con sóng vỗ ru ghềnh
hồn biển động lời vỏ sò vỏ ốc
ta xăm ngực thuồng luồng mò trai lượm ngọc
thân vùi đảo xa mờ
ma đói lạnh trùng khơi

đất nước mỗi ngày lên đón ánh mặt trời
thấy dung mạo tiền nhân nhắc lời di huấn
nghe vị mặn mồ hôi thấm đầu sông cuối  bãi
vạt cỏ bên đường cũng học để mà xanh

đất nước đổi bao xương máu mới yên bình
ta yêu nước là yêu những điều gần gũi nhất
yêu giọt mưa mái tranh
yêu reo cười lửa bếp
mẹ từng chiều nhen ấm áp cơm rau

vẫn biết rằng chưa sang cả đẹp giàu
nhưng ta quý những gì ta có được
ta giữ từng câu hát ru
từng tượng đồng bia đá
từng vạt áo nâu già mẹ cặm cụi ngoài sân

có đất nước nào như đất nước ta
lưng gánh mưa nguồn ngực phơi giông bão
mỗi góc ruộng bờ cây là mỗi niềm xương máu
mỗi tên người tên đất cứ rưng rưng
   
đất nước ơi từng chặng  tủi mừng
như đứa trẻ lớn lên mỏi mòn cha mẹ
con nhà nghèo lòng thảo thơm từ bé
nghe tiếng gà nhảy ổ cũng nâng niu

đất nước ơi cay khói bếp chiều
đường đánh giặc nhớ mẹ già muốn khóc
cứ ưng về làm cúi núi rơm thơm
tóc mẹ bạc còn tro than lấm láp
   
đất nước ơi qua mỗi chặng đường
qua mỗi chặng lớn khôn
nhớ viên bi tuổi thơ sân trường lăn bảy màu ký ức
thương nhành ổi bên nhà đong đưa bím tóc
thương cánh diều rủ  rê trốn học
thương câu Kiều thầy giảng buổi bình văn

đất nước còn đau giọt lệ quá quan
gạt bịn rịn thường tình hoá sao khuê Nguyễn Trãi
đất nước còn buồn tiếng thở dài cha từng mùa cấy hái
cơn nồm nam tàu chuối biết se lòng

đất nước nuôi ta thành những anh hùng
ta giữ đất bốn ngàn năm không nghỉ
đất nước dạy ta trở thành thi sĩ
ta giữ nước bằng nhân hậu bao dung

ta giữ đất nước bằng hào khí cha ông
từng thế hệ trao truyền ngọn lửa hồng tim máu
đất nước mến yêu ơi
bốn ngàn năm trang sử không nguôi giờ giông bão
những đàn con lại tiếp bước lên đường

                                                   Quảng Nam 19/8/2011
                                                      Nguyễn Đức Dũng

Nguồn: Vietnamnet

Bị chú: Nguyễn Đức Dũng - Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam- một nhà thơ còn rất trẻ - mới trên bốn mươi! 

.

 

 

(2) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

NHÀ THƠ VĂN CÔNG HÙNG - NGƯỜI HAM CHƠI...NGHIÊM TÚC

 

* TRẦN HOÀNG THIÊN KIM

 

NVTPHCM - Ồn ào, sôi nổi, luôn “góp vui” cho bàn tiệc bằng những câu chuyện cười vỡ bụng. Văn Công Hùng có cái uy của dòng máu cha Thừa Thiên- Huế, cái duyên của dòng máu mẹ Ninh Bình, cái hài hước gân guốc của người làm thơ sống nơi miền nắng gió Tây Nguyên. Anh đã xuất bản 9 tập sách, 8 tập thơ và 1 văn xuôi. Hiện nay là Phó chủ tịch Hội VHNT Gia lai, Tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Gia Lai, Uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam.

 

* Thưa nhà thơ Văn Công Hùng, trong Hội nghị Viết văn trẻ lần thứ VIII tại Tuyên Quang, lực lượng các cây bút trẻ Gia Lai có mặt tại Tây Nguyên khá đông (chỉ sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, nếu để ý sẽ thấy rõ rằng, lực lượng trẻ ở đây phát triển không đều, tập trung ở Gia Lai và Đắc Lắc còn ở Đăk Nông đang là một… khoảng trắng. Với tư cách là một người “đầu chòm”, anh lý giải thế nào về điều này?

- Điều này chỉ có thể lý giải bằng việc, ngoài khả năng bẩm sinh, trời cho mỗi người cầm bút, thì sự tiếp nối thế hệ là cần thiết. Ở Đăk Nông hiện nay không có một nhà văn nào, nên việc phát hiện người trẻ rất khó. Tôi có một kinh nghiệm là cần phải biết phát hiện và giới thiệu người trẻ đúng cách, thời buổi “gạo châu củi quế” này, không động viên khích lệ đúng cách, tài năng rất dễ thui chột, ngược lại, cứ “vống” lên lại càng thui chột nhanh.

 

* Anh thử hệ thống một chút về các thế hệ người viết ở Tây Nguyên đi, vì chúng ta đang bàn về văn trẻ?

- Tạm chia thế này nhé, thời kỳ đầu với các nhà văn Nguyên Ngọc, Ngọc Anh, Thu Bồn, Trung Trung Đỉnh... Các anh ấy đã làm cho Tây Nguyên và văn học Tây Nguyên chói sáng trên văn đàn, một Tây Nguyên trong sáng lạc quan, thấm đẫm tính nhân văn dù đấy là thời kỳ đói khổ vô cùng, nguy hiểm vô cùng, muôn ngàn kiểu chết bất đắc kỳ tử sẵn sàng ập đến. Bằng chứng là nhà văn Ngọc Anh đã hy sinh tại chiến trường Tây Nguyên. Các nhà văn thời kỳ này trước hết là những người lính, và họ là những người lính thực thụ, họ cầm bút giữa hai trận đánh, giữa những cơn sốt rét quặn người, và cả những lúc "lạc rừng"... Thế hệ thứ hai là sau giải phóng. Các nhà văn hiện tại ở Tây Nguyên là thuộc lớp này, có tôi trong ấy. Họ lên Tây Nguyên từ nhiều nguồn, nhưng phần lớn đều trở thành nhà văn sau khi đã lên Tây Nguyên lập nghiệp. Từ Đắc Lắc có Nguyễn Hoàng Thu, Phạm Doanh, Văn Thảnh, hai nhà văn nữ người dân tộc là Linh Nga Niek Đăm, Kim Nhất, rồi Lê Vĩnh Tài, Đinh Thị Như Thúy... Ở Gia Lai là Hương Đình, Phạm Đức Long, Chử Anh Đào... Kon Tum là Tạ Văn Sĩ, Hữu Kim... Thế hệ thứ ba là thế hệ mà họ vừa đi dự hội nghị viết văn trẻ lần thứ VIII vừa qua, rất trẻ, hiện đại và thích nghi. Họ vừa làm kinh tế vừa viết văn như Hoàng Thanh Hương, Ngô Thị Thanh Vân, Miên Di, Lê Vi Thủy, Niê Thanh Mai…

Nhà thơ Văn Công Hùng với đoàn nhà văn trẻ Tây Nguyên chụp ảnh

lưu niệm với đồng nghiệp tại Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc lần 8

 

* Còn anh, anh đã đến với thi ca như thế nào, anh có thể chia sẻ?

- Trái với một số nhà văn tự nhận là hồi học phổ thông thì học môn văn rất... kém, ngược lại tôi rất giỏi văn. Khoảng 3 tuổi là tôi đã đọc được tít báo, khi đi ngoài phố có thể đọc hết các khẩu hiệu trên tường. Hồi ấy truyền thông chưa như bây giờ chứ không có khi tôi cũng được phong thành... thần đồng ấy chứ. Giỏi văn nhưng các cuộc thi quan trọng tôi đều... rớt, mà cụ thể là hồi thi vào khoa văn Đại học Tổng hợp Hà Nội môn văn tôi được... 1 điểm, thi học sinh giỏi cũng chỉ đến tầm cấp tỉnh. Mới đây tôi kể với Giáo sư Phong Lê là hồi sinh viên tôi đã phản biện ông trong bài thi đấy, nhưng ông vẫn cho tôi 7 điểm với lời phê bên lề: Có ý kiến mới nhưng cũng cần... bám sát giáo trình. Lớp 7 tôi đã làm thơ, mò mẫm làm và không biết nơi đâu mà gửi mà nhờ vì nhà tôi sơ tán về huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa. Hồi ấy suốt ngày đọc thơ Tố Hữu, rồi Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hồng Kiên, Hoàng Hiếu Nhân... và nhờ may là không biết gửi đi đâu, chỉ âm thầm chép trong sổ nên hôm nay tôi là... tôi, chứ gửi đi đâu để ai đó bảo cái này mà là thơ à là có khi mình nhụt chí luôn. Cứ âm thầm tưởng đấy là thơ cho đến khi học đại học ở Huế, được gặp các nhà thơ thứ thiệt, một số bạn bè làm thơ nữa, thì mình thấy mình... ngu thật, thấy mình hoàn toàn không có khiếu làm thơ. Tuổi trẻ hồi ấy lãng mạn. Nhà tôi ở Huế, mình học đại học tổng hợp Huế khóa 1, thiếu gì thành phố ở đồng bằng nhận, và họ đã nhận rồi- hồi ấy ra trường là được phân công công tác, nhưng tôi đã xung phong lên Tây Nguyên. Cũng chưa biết Tây Nguyên là gì, mở bản đồ ra, thấy Gia Lai Kon tum gần Huế nhất, thế là viết đơn xung phong đi lên đấy, cũng chỉ định là đi 3 năm rồi về. Hồi ấy thất vọng về mình ghê gớm nên bảo đi thử xem có nên cơm cháo gì không, ba năm chứ mấy. Thế rồi đằng đẵng đến giờ... Bây giờ thì mình đã thành người Tây Nguyên thứ thiệt, đến đâu cũng nghe giới thiệu: Nhà thơ Tây Nguyên Văn Công Hùng.

 

* Tuy nhiên, nói gì thì nói, không thể phủ nhận mảnh đất Tây Nguyên đã làm nên một tính cách thơ và tính cách đời Văn Công Hùng rất riêng?

- Nếu tính đằng thằng ra thì Tây Nguyên, cụ thể là Gia Lai đã giúp tôi trở thành nhà thơ, nhưng cũng có sự ảnh hưởng không nhỏ của quê nội tôi là Huế và nơi tôi sinh ra và sống suốt thời học phổ thông là Thanh Hóa, còn Ninh Bình thì ít ảnh hưởng vì tôi chỉ thi thoảng về thăm. Bạn bè đùa, ông là người mang trong mình nhiều yếu tố cố đô: Huế nhé, Thanh Hóa nhé, Ninh Bình nhé, và bây giờ Tây Nguyên cũng có vua... lửa đấy với "kinh đô" là cái làng Jrai ở chân đèo Chư Sê đấy...

 

* Trên hành trình đến với văn chương, nhà văn, nhà thơ nào có sự ảnh hưởng đối với anh?

- Người ảnh hưởng nhiều đến đời thơ tôi lại là một... nhà văn, anh Trung Trung Đỉnh. Tôi lên Gia Lai thì ông Đỉnh đã ra Hà Nội, nhưng hầu như năm nào ông cũng vào thăm lại chiến trường xưa. Hồi ấy còn khổ lắm, ty văn hóa nơi tôi làm việc có một cái nhà khách xập xệ, ông Đỉnh vào thường nghỉ ở đấy. Tôi hay được giao nhiệm vụ chuẩn bị dọn dẹp phòng khách đón ông. Tôi chưa vợ cũng ở ngay trong phòng làm việc, các buổi chiều chúng tôi hay nhậu và tôi lặng lẽ học ông từ ấy. Hồi ấy tôi hăng hái viết truyện lắm, ông Đỉnh đọc xong bảo: Đóng góp lớn nhất của chú cho nền văn xuôi Việt Nam là... chú đừng viết nữa! Từ đấy tôi cạch truyện ngắn và chuyển sang viết... báo theo phong cách... truyện ngắn.

Nhà thơ đầu tiên mà tôi được đụng vào da thịt là nhà thơ Xuân Hoàng, đúng hơn là ông đụng vào tôi, đụng quyết liệt và đau điếng. Hồi ấy tôi còn là sinh viên, một hôm đi dự đám cưới 1 thầy giáo trong khoa thế nào mà lại ngồi cạnh ông Xuân Hoàng. Là bánh kẹo thôi, nhưng ông sang sảng đọc thơ, nụ cười thường trực, kính trắng lấp lóa, ông di chuyển từ bài này sang bài kia không ngừng nghỉ. tôi ngồi cạnh nên cứ sau mỗi bài ông lại vỗ tôi cái đốp hoặc xoắn đùi tôi một cái: Hay hí. Tất nhiên là tôi không kịp khép mồm và cứ gật như phản xạ có điều kiện. Sau đó tôi về đọc thêm nhiều thơ ông và đến giờ, dẫu rất ít thuộc thơ, nhưng tôi lại thuộc khá nhiều thơ Xuân Hoàng, ví dụ như: Phố nhỏ quê ta thức nhiều kỷ niệm/ Dạ lan hương trắng ngát những canh dài/ Em đi nhé bóng em lồng bóng biển/ Bài thơ lành anh đến đậu trên vai. Hoặc như: Chỉ một bước là chân kề mép sóng/ Biển và bờ ở giữa chúng ta đi/ Bờ có đất có cây có bóng chiều bảng lảng/ Biển có thuyền có bão có chia ly... Hôm ấy tôi nhớ tôi và ông là người rời phòng cưới cuối cùng, dẫu tê bầm vai và đùi nhưng tối ấy tôi nắn nót ghi vào nhật ký: Hôm nay được gặp và được nghe nhà thơ Xuân Hoàng đọc thơ.

Nhà thơ Văn Công Hùng (thứ 2 từ phải sang) trước lán Nà Lừa- Tuyên Quang

 

* Anh kể về trường hợp ra đời của một bài thơ tâm đắc của anh đi.

- Phần lớn các bài thơ khi viết ra thì bao giờ tác giả cũng tâm đắc, tâm đắc cho đến khi có... bài mới để lại tâm đắc. Tôi thuộc loại phổ cập vi tính khá sớm, chục năm nay tôi hoàn toàn viết trực tiếp trên máy tính. Hồi tôi sắm cái laptop đầu tiên thay cho cái máy bàn secon hand, mở ra cài word xong là tôi gõ ngay một bài thơ, sau này lấy tên nó làm 1 tập thơ của mình: "Gõ chiều vào bàn phím": “Tôi gõ chiều vào bàn phím/ hiện lên em ngơ ngác xa xăm… /Em ở phía không thể nào tới được/ một con sông khóa những nhịp cầu/ giá có thể lấp sông bằng nỗi nhớ/ một phía bờ sẽ lại hóa dòng sông…”. Sau này có nhiều người bình vui lắm, nhưng thực ra là tôi gõ nó trong... 30 phút. Nhanh hơn một cữ cà phê và hoàn toàn không định trước.

 

* Nhà thơ, nhà báo, nhà quản lý, đi đâu cũng sôi nổi, luôn là người làm trò cho các cuộc vui thêm hấp dẫn, nhưng thơ của anh lại trầm buồn và sâu lắng bởi nhiều chiêm nghiệm và ký ức… Dường như những điều này không mấy liên quan đến nhau nhưng anh đã và đang dung hòa chúng một cách rất… hòa thuận, thế nên điều mà tôi băn khoăn là, đâu mới đích thực là tính cách của Văn Công Hùng?

- Đã nhiều người nói với tôi điều này, có người lý giải giúp là để che đi những gì ẩn bên trong. Tôi thì đồ là do mình vẫn còn tuổi... hiếu động. Tôi thấy các việc này trong tôi không bị loại trừ nhau, trái lại hỗ trợ nhau khá tốt. Báo giúp tôi kiếm tiền nuôi vợ con và nuôi thơ, nhưng quan trọng hơn nó giúp tôi được đi nhiều, gặp gỡ nhiều, được mở rộng tầm mắt. Nó còn giúp tôi luôn phải động não. Nghề viết mà lơi tay là lười ngay. Việc gì mà mình hết mình thì cũng đều lớn thành nhỏ, nhỏ thành bình thường. Trắng phớ ra, tôi là một người ham chơi nghiêm túc. Rất thích đi và hết mình trong các cuộc vui, để sau đó khi mở laptop ra thì mình đối diện với nỗi cô đơn của mình, đắm chìm vào cảm xúc, và viết. Nói ham chơi nghiêm túc vì tôi rất sợ các bác ham chơi... bê tha. Tôi rất đông bạn ở khắp nơi nhưng đi đâu rất ít làm phiền họ, họ vui thì mình ngồi, họ không thích là dứt khoát không ép. Nhà tôi một thời cũng là "câu lạc bộ văn nghệ sĩ khắp nước" nên tôi hiểu sự không vui khi bị làm phiền.

 

* Mảnh đất Tây Nguyên đã hun đúc nên một thế hệ những người cầm bút mang tâm hồn của đá, của cây rừng, nhưng dường như gần đây, khi bập vào đời sống thị trường, các cây bút trẻ ở đây chưa thực sự phá cách để có một tiếng nói mạnh mẽ như thời của cha anh. Với tư cách là một Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật, anh nghĩ thế nào về điều này cũng như thực trạng phát triển văn học ở tỉnh nhà?

- Thì nó cũng như tình trạng chung thôi, có điều ở Tây Nguyên thì khó hơn. Phần lớn các nhà thơ ở Tây nguyên hiện nay đều là công chức nhà nước, phải có một chỗ để họ làm việc, lĩnh lương, còn viết văn chỉ là phụ. Tôi kể nhé, tập "Đêm không màu" của tôi in xong, ngoài bán trực tiếp thì tôi có mang gửi ở mấy hiệu sách ở thành phố Pleiku. Nửa năm sau quay lại lấy thì... sách vẫn nguyên đai nguyên kiện nằm trong tủ, tức là từ lúc tôi gửi đến khi tôi đến thanh toán thì sách chưa một lần được mở ra và bày lên quầy. Trong hoàn cảnh ấy mà vẫn viết vẫn đam mê được thì tôi phục các đồng nghiệp của tôi quá.

 

* Xin cảm ơn nhà thơ Văn Công Hùng!

Nguồn: VNCA & NVTPHCM

 

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

DÂNG TRÀ- NGUYỄN QUANG THIỀU

           Thưa cha, con đã dâng trà

Chiều quê một nửa mái nhà nắng đi

           Làng nghèo ngồi đếm chim ri

Con nghèo con đếm thầm thì trong mơ

          Con sao tìm lại ấu thơ

Mà roi cha vẫn gác hờ mái hiên

          Con từng ba dại bảy điên

Chén trà con rót tràn miền đắng cay

          Phận con nhàu trọn lòng tay

Một câu thơ bạc một màu vô ơn

         Chén trà, con có gì hơn

Mời cha ròi nuốt tủi hờn sau cha

 

         Thưa cha con đã dâng trà

Sao cha im lặng như là bóng mây

         Để hồn trà khuất đâu đây

Xác trà lạnh ngắt đổ đầy lòng con.

 

        Nguồn: Báo Thanh niên

 

(1) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

MOTIP VÀ PHẢN MOTIP QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN QUANG LẬP -Phùng Tấn Đông

Vấn đề môtip và phản môtip

 qua một số truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập

 

Từ những năm 30 thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu văn học Nga như Voloshinov và Bakhtin từng nhận định rằng văn bản văn chương bao giờ cũng đa nghĩa, nó không phải là một sản phẩm bất biến mà là một quá trình tương tác giữa tác giả và độc giả thông qua ngôn ngữ trong một bối cảnh cụ thể. Nhà nghiên cứu Julia Kristeva, người sáng tạo ra thuật ngữ “liên văn bản” (intertextuality) cũng viết “bất cứ văn bản nào cũng đều được xây dựng một bức tranh ghép từ những đoạn trích dẫn; bất cứ văn bản nào cũng đều là sự hấp thụ và chuyển hoá những văn bản khác”(1).

          Ở nước ta, từ những năm 90 thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu văn học đã bắt đầu đề cập đến hiện tượng nhân vật và tác phẩm sản sinh ra tác phẩm mới, nhân vật mới. Trong bài viết “Khả năng tái sinh của Chí Phèo”, Đặng Anh Đào viết “Điều mà Thị Nở lo lắng ở cuối tác phẩm Nam Cao nay đã thành hiện thực. Đứa con hoang của Chí Phèo đã ra đời và không chỉ có một Chí Phèo không tuyệt tự mà rất mắn đẻ” và “lịch sử văn học đã từng có những nhân vật không tuyệt tự hoặc được tái sinh; thông thường dễ thấy nhất là từ nguồn văn học dân gian.”(2). Ở một bài viết khác, cũng Đặng Anh Đào “Một điều khiến chúng tôi phải suy nghĩ là vì sao một số huyền thoại hoặc môtip, đề tài, cốt truyện... của các hình thức kể chuyện dân gian cổ xưa cho đến nay vẫn không ngừng được phát hiện nhiều tầng lớp ý nghĩa và nuôi dưỡng biết bao cảm hứng như một nguồn sữa không bao giờ cạn trong thế giới hiện đại của phương Tây, thậm chí có một khuynh hướng “huyền thoại hoá””(3).

          Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ hạn định việc thử nhận diện môtip và phản môtip ở một số truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập. Đó là các truyện “Ngày xửa ngày xưa”, “Cầu cho nàng Liêng trẻ mãi”.

          Về môtip

          Môtip - phiên âm từ tiếng Pháp, Anh: Motif, tiếng Đức: Motive đều bắt nguồn từ tiếng La tinh: Moveo nghĩa là chuyển động. Về mặt nguồn gốc, thuật ngữ môtip gắn với văn hoá âm nhạc, lần đầu tiên được ghi trong “Từ điển âm nhạc” (1703) của S. de Brossare, được J.W.Goeth đưa vào văn học trong tác phẩm “Thi ca tự sự và thi ca kịch nghệ” (1797). Môtip được hiểu “là thành tố bền vững, vừa mang tính hình thức, vừa mang tính nội dung của văn bản văn  học; môtip có thể được phân xuất ra từ trong một hoặc một số tác phẩm văn học của một nhà văn hoặc trong văn cảnh toàn bộ sáng tác của nhà văn ấy, hoặc trong văn cảnh một khuynh hướng văn học, một thời đại văn học nào đó. Với tư cách một phạm trù của nghiên cứu văn học, nó được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX, nhất là trong các công trình của A. N. Veselovski và V. Ja. Propp - những học giả đã khảo sát môtip như yếu tố không thể phân chia nhỏ hơn của văn bản, ngôn bản; đó là những sự vật, hình ảnh, là đơn vị nhỏ nhất của cốt truyện dân gian”(4).

          Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Đắc: “Trong ngôn ngữ thông thường, môtip chỉ là những nét khác biệt, hoặc là những nét nổi bật. Từ môtip thường được dùng trong văn học, âm nhạc và nghệ thuật tạo hình, hoa văn, trang trí. Môtip được sử dụng và nghiên cứu nhiều nhất trong truyện kể dân gian. Nó chỉ một phần nhỏ trong truyện, một thành tố tạo nên mẩu chuyện. Thông thường, người ta xem môtip là những phần nhỏ nào, thành tố nào có thể tách rời được, có thể lắp ghép được, hay lặp đi lặp lại, và phải ít nhiều khác lạ, bất thường, đặc biệt. Môtip có thể là sản phẩm của trí tưởng tượng non trẻ, thơ ngây của loài người ở trước thời kỳ của tư duy khoa học: những con vật biết nói, người chết biến thành cây, cái thảm biết bay, hạt gạo to như cái đấu và khi chín thì tự đi về nhà, nồi cơm ăn không bao giờ hết v. v... Môtip cũng có thể là sản phẩm của sự quan sát cuộc sống xã hội có thực nhưng nó phải là bất thường, quá đáng như mẹ ghẻ giết con chồng, anh em ruột hại nhau, cha mẹ đẻ mang con bỏ rừng... v.v... Môtip cũng có thể là sản phẩm của sự mơ ước dân gian: chàng trai nghèo lấy được vợ tiên, công chúa; cô gái nghèo lấy được hoàng tử...v.v... Môtip cũng có thể là sản phẩm của trí thông minh, sự khôn ngoan bất ngờ, thú vị của trí tuệ dân gian như trong các truyện ngụ ngôn, truyện cười, truyện đánh lừa”(5).

          Về phản môtip

          Trong văn học, khái niệm phản môtip (tiếng Anh: counter motif) được hiểu như những yếu tố nghệ thuật có nội dung hoặc hình thức “chống lại, ngược lại” với các môtip truyền thống, có tác dụng tạo ra một hiệu quả nghệ thuật nhất định. Phản môtip được khám phá khi độc giả đọc liên văn bản, nối kết và liên hệ với những môtip trong văn học truyền thống, nhất là văn học dân gian.

          Thử nhận diện môtip và phản môtip...

          Truyện ngắn “Ngày xửa ngày xưa”(6) được Nguyễn Quang Lập sáng tác từ 1986. Truyện kể về truyện đời của ông Thiệt - một người đàn ông đầy bất hạnh, một “cái túi đựng tai ương” của chiến tranh “hai tròng mắt đã bật khỏi hố mắt ông năm 1968 do một quả rốckét của “không lực Hoa Kỳ” phóng thẳng xuống suýt nữa đã làm ông tan xác” năm ấy ông 40 tuổi. Cái làng ông đến nương náu cũng khốn khổ như ông “do một người tên Mùi tìm ra năm 1944, năm đói rách nhất nước ta...đầu tiên là một người, sau hai tháng có 9 người, sau 7 tháng là 29 người. Người thứ 29 là ông”. Đường tình duyên của ông cũng hết sức lận đận vì “số sát vợ”, một người vợ vô rừng lấy củi bị rắn độc cắn chết, một người vợ mới ba tháng sảy thai băng huyết “lặng lẽ nhắm mắt khi ông chạy băng qua 19 quả đồi về một xóm giáp đồng bằng mời thầy thuốc”, người thứ ba “chị đã chết ngồi bên bếp lửa không rõ bị bệnh gì”. Dù là người “hiền lành và khoẻ mạnh”, dù “bị Mỹ đánh mù mắt” nhưng ông Thiệt vẫn khó lấy được vợ vì làng Mùi đang chiến tranh, vì số ông là số sát vợ, chẳng ai thèm lấy. Rồi làng Mùi bị bom, làng cháy, người chết, tình thế như trở về “thời kỳ đồ đá”, con số người chết lên đến 118 người, như vậy chỉ còn 93 người nữa... thì ông Thiệt được Lẹ - người đàn bà đanh đá, điêu ngoa nhất làng đến ngả vào vòng tay. Lẹ đến với ông vì sợ, vì những ham muốn bản năng đã đến ngưỡng, nhất là sự bủa vây của cái chết. Ngỡ ngàng, mê mẩn, họ đã có “những cuộc giao hoan ngút trời... làm rung chuyển làng Mùi mấy tháng liền, bất chấp những trận bom ném xuống làng ngày một dữ dội”. Cuối cùng, sau một trận bom dữ dội, tàn huỷ làng Mùi, người đàn bà cuối cùng cũng bỏ ông Thiệt mà đi, đi theo đoàn người làng Mùi cuối cùng, được một đơn vị bộ đội cứu đưa về đồng bằng... trong lúc ông Thiệt đi bẫy lươn, kiếm thức ăn nuôi vợ. Ông Thiệt không biết gì, cứ tưởng vợ đã chết, người làng Mùi đã chết, ông tồn tại một cách khốc liệt bằng những hạt gạo cuối cùng được ông tìm kiếm, “phát hiện” trên đống đổ nát của làng Mùi, tồn tại với ý nghĩ rằng mọi người sẽ không chết, chỉ chạy loạn rồi về lại làng Mùi, về với ông bởi họ không thể quên ông... Rồi một ngày, ông Thiệt phát hiện rằng đạn bom đã tạnh, rằng đã  hết chiến tranh. Tom góp những hạt gạo cuối cùng, ông Thiệt mù lần mò tìm về đồng bằng trước hết là để gặp con người, để giải toả cơn thèm khát con người và hi vọng gặp được Lẹ - người vợ thứ tư. Nhưng rồi, ông Thiệt đã vỡ mộng khi gặp con người ở đồng bằng sau chiến tranh khi họ hỏi ông tìm ai, ông chỉ nói độc một câu “về với mọi người”. Ông xưng tên là Thiệt, nói rằng mình đang ở rừng rồi khóc hu hu, rồi “hết ôm chân người này lại quay sang người khác khóc nức nở”. Mọi người cười, ôm bụng mà cười. Ông khóc dữ hơn. Ông không thể trả lời được cụ thể rằng mình sẽ về đâu, tìm ai, tên gì, chỉ độc một câu “về với mọi người” đến nỗi có người quát lên “mọi người là cái đéo gì?”. Rốt ông lang thang đầu đường xó chợ, hết chợ này đến chợ khác, hát bài hát bẫy lươn ngày xưa mỗi khi ngồi dựa vào lều chợ những canh khuya. Rồi một hôm ông gặp Lẹ. Lẹ đã cho ông tiền rồi bỏ chạy vì Lẹ đã là một người khác, có một đời sống khác, vì đây là đồng bằng chứ không phải làng Mùi, Lẹ đã tan biến vào đêm tối của mọi người. Ông Thiệt thất vọng cùng cực đã xoè diêm đốt chợ và cắm cổ chạy sấp ngửa trong đêm tối. Sau này có người nói “ông đã bỏ trốn, người thì nói ông đã bị cháy thành tro cùng với hàng trăm túp lều lá mía”. Riêng tác giả - nhân vật xưng tôi, cái tôi kể truyện - thì “mãi đến 9 năm sau, mùa hạ 1981, tôi theo đoàn địa chất đi khảo sát quặng sắt ở miền tây Quảng Bình, có gặp một cái dốc ngắn, nhiều đá tai mèo gọi là “Dốc vượn mù”. Một người trong đoàn kể rằng: Có một con vượn mù, ngồi trên chạc ba cây dẻ ở đỉnh dốc ngửa cổ cười suốt ngày. Cười đến ngày thứ một trăm thì rơi xuống chân dốc, chết đáng thương như một con người”.

          Bối cảnh làng Mùi và chuyện đời ông Thiệt khiến người đọc liên tưởng đến một số môtip trong huyền thoại về lụt lội, một trận lụt lớn - hồng thuỷ - có tính huỷ diệt loài người, chỉ có ít người may mắn sống sót, sau đó họ lấy nhau, tái tạo loài người và cuộc sống trên trái đất. Theo khảo sát của Nguyễn Tấn Đắc về truyện Lụt ở Đông Nam Á thì “type truyện lụt với những môtip đặc trưng như “lụt do xung đột giữa thần với người hoặc giữa người với người; lụt do thần gây ra để trả thù, trị tội người; người sống sót là con vật hoặc thần chịu ơn trả ơn báo tin; người sống sót là cặp anh trai - em gái hoặc quả bầu, khúc gỗ, cái giường, cái cối giã, cái trống...để tránh lụt; việc tái tạo loài người với điều kiện chứng minh việc lấy nhau là tất yếu; hôn phối trái lẽ thường và không tự nguyện (anh trai lấy em gái); sinh đẻ kỳ dị: sinh quả bầu, chậu máu, cục thịt; các vật đó biến thành người... Trong cái nhìn huyền thoại, lịch sử loài người trải qua hai thời kỳ rõ rệt: thời kỳ Trước Lụt và thời kỳ Sau Lụt, hay cũng có thể gọi là thời kỳ sáng tạo và thời kỳ tái tạo của loài người”(7).

          Có thể nhận diện môtip “lũ lụt hay chiến tranh huỷ diệt” được Nguyễn Quang Lập vận dụng ở không gian làng Mùi, ông Thiệt là người may mắn sống sót, cùng với Lẹ và một số ít người. Ông Thiệt và Lẹ lấy nhau, sự lấy nhau cũng trái thường khi cô Lẹ tuy đanh đá, điêu ngoa, ế chồng nhưng vẫn còn son trẻ, chưa một lần chồng nào lại “đi gạ lấy thằng mù”, đến “biếu không cho thằng sát vợ”. Sự kiện này khiến người đọc lại nghĩ đến môtip “người xấu xí, kỳ dị lại lấy vợ tiên, công chúa” trong những truyện kể dân gian Việt Nam như truyện Sọ Dừa, chàng Cóc... Như vậy, xét về việc vận dụng môtip văn học dân gian, tác giả đã vận dụng đồng thời hai môtip, một là chiến tranh huỷ diệt, có những người may mắn sống sót lấy nhau, hai là một hôn phối để tái tạo cũng kỳ lạ, bất thường, đó là chuyện “thằng mù” lấy được “gái son”.

          Thế nhưng sức hấp dẫn lại ở hồi kết. Số phận của cuộc hôn phối “hoan lạc ngất trời suốt mấy tháng liền” là nỗi mất mát lớn lao. Ông Thiệt đã mất người đàn bà của mình, đau đớn hơn, ông thật sự đã lạc lõng giữa cõi người, giữa cõi đời. Ông không chết vì bom đạn chiến tranh, cũng không chết vì đói cơm nhạt muối mà chết vì bị con người quên lãng. Đớn đau sâu thẳm và “địa ngục” nhất là khi “giọt người” cuối cùng đã làm tràn chén đắng trần gian có tên là Lẹ “Lẹ đã có một tên khác, một nghề khác, một lý lịch khác để lấy chồng khác ở ngay thị trấn Đ. này”. Đỉnh điểm của bi kịch là “phản môtip” người đàn ông mù hoá con vượn mù “ngửa cổ cười suốt ngày. Cười đến ngày thứ một trăm thì rơi xuống chân dốc chết đáng thương như một con người”.

          Đọc “liên văn bản” hẳn người đọc nghĩ đến phản môtip “người hoá thú” bởi xưa nay trong những truyện kể dân gian, truyện cổ tích luôn có môtip “người đội lốt thú” mà Sọ Dừa là một truyện tiêu biểu. Sọ Dừa sinh ra “là một cục thịt tròn lông lốc, có mặt mũi, miệng, tai nhưng không có tay chân”. Diễn trình truyện Sọ Dừa là nhân vật phấn đấu vượt qua hoàn cảnh khó nghèo, dị dạng, định kiến người đời để thay đổi vận mệnh, để có “nhà cao cửa rộng”, rồi trở thành chàng rể khôi ngô tuấn tú, rồi đi thi, rồi đỗ Trạng Nguyên... Phản môtip “người hoá thú” cũng nằm trong truyện ngắn “Hoá thân” (1916) của Franz Kafka “có lần vào buổi sáng, tỉnh dậy sau một đêm ngái ngủ, Gregor Samsa phát hiện ra rằng, ngay trên giường mình, anh đã biến thành một côn trùng ghê tởm”. A. Karenlski đã nhận định: “môtip con người biến thành con vật theo kiểu truyện truyền kỳ được Kafka thông báo ngay đầu truyện nhưng vẫn gây nên cú shock thẩm mỹ ở người đọc do ở đây không phải - vì tình huống phi thực tế (sự kiện thiếu tá Kavalev của Gogol không thấy mũi trên mặt mình không làm chúng ta bị shock) mà chủ yếu do cảm giác ghê tởm gần như mang tính sinh lý, được gợi lên trong chúng ta bởi hình tượng con côn trùng có kích cỡ con người”(8). “Con người côn trùng” Samsa sau đó đã làm đảo lộn cuộc sống của gia đình mình, khiến gia đình “không chịu nổi” và đã “đón nhận cái chết của đứa con côn trùng”. Con vượn mù của Nguyễn Quang Lập cũng đã chết, hoàn tất đồng thời các phản môtip: “người may mắn đã bất hạnh, không tái tạo được đời sống” và “con người bỗng phát hiện ra sự cô đơn tuyệt đối của mình - sự cô đơn được khơi dậy bởi nhận thức rõ ràng về sự khác biệt tuyệt đối của mình đối với những người khác”(9) nên con người hoá thú, một con thú cũng tật nguyền như con người trước đó và dĩ nhiên không bao giờ còn có cơ hội làm người.

          Ở truyện “Cầu cho nàng Liêng trẻ mãi” (1985), tác giả mượn giọng kể một người miền núi kể về làng mình, ngôi làng có nàng Kan Liêng xinh đẹp, đẹp đến nỗi “không có mồm ai nói hết được” mặc dù chiến tranh đang tàn phá làng bản, giặc Mỹ “thả thuốc độc làm cháy cả tóc miềng”. Kan Liêng đẹp “siêu giá trị” không “mấy nồi đồng, mấy trâu, mấy chiêng ché cho vừa”. Ở đâu có Kan Liêng thì “nhà đó chân trai làng chật sân, khèn trai làng chật cửa. Lũ con trai nhảy hung như mấy con trâu điên. Thằng mô cũng muốn xán lại gần Kan Liêng một tí, một tí thôi cũng sướng hung rồi”. Kan Liêng đẹp nhưng không ưng ai, không “trao năm sợi tóc của nàng cho ai”. Dân làng rỉ tai nhau hay là nàng chờ ai, để cái bóng ai trong bụng nàng rồi. Không phải. Kan Liêng có ai mà chờ. Rồi cố nhớ, người làng cuối cùng cũng nhớ ra, làng Tupal có một trai làng đã bỏ làng đi, đi đâu không biết đã ba mùa rẫy. Câu chuyện dần hé lộ. Người đó là KonKim, con trai của KonLi và Kan Mí. Kon Kim bỏ đi trong một ngày buồn, làng bị bỏ bom, làng cháy, người chết, cha mẹ Kon Kim cũng chết... Ngày hội cúng làng trước mùa trỉa lúa thứ ba, Kan Liêng cũng đẹp nhất trong tiếng đàn, tiếng khèn, tiếng tù và... Giữa hội vui, giặc Mỹ đến bắt cả làng, rồi ngày nào cũng có đám ma, ngày nào cũng bị bắt đi phu, con gà không dám gáy vì sợ lính áo rằn nghe thấy tóm cổ mổ thịt. Khổ nhất là Kan Liêng bị thằng lính áo rằn tên Quang “làm to nhất” mê mẩn. Bao nhiêu lần hắn tán tỉnh, xán gần nhưng Liêng cự tuyệt. Rồi tin đồn ở đầu nguồn Đakrông “có một người đi mưa không ướt, gió phải chạy theo sau, bắn một mũi tên xuyên mười cái ngực thằng Mỹ, hét một tiếng cháy mười khoảng rừng. Người đó đi mô, đồn thằng Mỹ phải sụp, lính áo rằn phải chết. Người đó là con của người trời”. Người đó là Kon Kim. Kon Kim dẫn bộ đội về đánh sập cái đồn của thằng Quang. Làng mở hội ăn mừng. “Kon Kim nhìn Kan Liêng múa hát mà chân muốn mọc rễ”. Chủ  làng nhìn, biết và hỏi Kon Kim nói chỉ ưng Kan Liêng thôi, Kan Liêng cũng thầm ưng Kon Kim. Lũ trai làng lại hỏi Kon Kim “Rứa trước khi trốn làng đi, Kon Kim đã nói chi với Kan Liêng chưa?”. Vì chưa nói, sáng mai Kon Kim phải đến chân cầu thang nhà Kan Liêng mà nói “không được nói ở đây, luật lệ làng Tupal là rứa”. Đúng hẹn, chủ làng dắt Kon Kim đến nhà Liêng, có lũ trai làng đi theo. Những tưởng một cái kết đẹp như mơ khi Kon Kim nói cái bụng mình thương Kan Liêng hung, miềng muốn lấy Kan Liêng lắm rồi, cho mình lấy đi, thế nhưng “Kan Liêng nhìn Kon Kim một chặp  lâu, rồi quay vào nhà, lấy khèn bè ra trao Kon Kim. À, Kan Liêng muốn nhắc Kon Kim: trai làng đến ngỏ lời gái làng chỉ hát cha chấp thôi, thổi khèn bè thôi, không nói. Đúng rồi”. Kon Kim đỡ lấy khèn, ngó ngược ngó xuôi rồi “há mồm mở mắt ngơ ngác nhìn Kan Liêng. Cái tay cầm khèn run quá” rồi Kim tự thú “miềng chưa biết thổi”.Ồ lũ trai làng kêu lên. Đúng rồi. Nhớ ra rồi. Kon Kim khèn bè không biết thổi, đàn Abel không biết chơi, hát cha chấp câu quên nhiều hơn câu nhớ. Kan Liêng từ chối lời tỏ tình. Kon Kim đòi chết nhưng không chết được. Kon Kim buồn nhưng không chết. Mùa trỉa hạt lại đến. Khi mô mở hội Kan Liêng cũng đẹp nhất. Kon Kim hát cùng lũ làng “cầu cho cây Kê rơn lá đừng rụng, cầu cho ống nước mãi xanh rờn, cầu cho nàng Liêng trẻ mãi.”

          Câu chuyện khiến người đọc nghĩ ngay đến môtip “dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp”, một môtip phổ biến trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á.(10). Dân tộc Cao Lan cũng có hình tượng người anh hùng văn hoá (trong sự tích núi Ba Vì và Tam Đảo) rất gần với hình tượng Gióng ở đặc điểm cùng là con hoang và quá trình lớn lên, cũng rất gần với hình tượng Thạch Sanh khi sử dụng cái cung khổng lồ.(11). Kon Kim rất giống với Thạch Sanh, cũng bắn cung, bắn nỏ giỏi, “bắn một mũi tên xuyên mười cái ngực thằng Mỹ” làm vừa lòng người đẹp, là cứu tinh của cả làng Tupal, thế nhưng “phản môtip” ở đây là sự khiếm khuyết của người anh hùng cung kiếm là về mặt văn hoá. Kon Kim không biết thổi khèn, không biết hát cha chấp. Nàng Liêng hụt hẫng, bạn đọc hụt hẫng. Cầu cho nàng Liêng trẻ mãi trong nỗi chờ đợi người anh hùng văn hoá của đời nàng, cũng như khát vọng hoàn thiện giấc mơ về một người anh hùng vẹn tròn cả tinh thần lẫn thể chất của cả cộng đồng làng Tupal “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” (Huy Cận).

          Ở truyện ngắn đương đại Việt Nam, vấn đề phản mô tip cũng dễ nhận diện tới một số sáng tác như của Nguyễn Huy Thiệp với “Trương Chi”, Trần Chiến với “Thị Màu”, đặc biệt ở thể loại kịch nói, Lưu Quang Vũ với “Hồn Trương Ba da hàng thịt” khi các tác phẩm đi từ những phản môtip đến phản nhân vật, phản cổ tích. Riêng Nguyễn Quang Lập việc vận dụng phản môtip vì tác giả “có xu hướng muốn thể hiện những bi kịch trong số phận các nhân vật, muốn đi vào con đường cảm nhận những nỗi đau tinh thần rất cụ thể và đáng được chia sẻ của con người” như một nhà nghiên cứu từng nhận định(12).

Phùng Tấn Đông

Chú thích:

  1. Ngô Tự Lập - Văn chương như là quá trình dụng điển- NXB Tri Thức, Hà Nội, 2008, Tr.37.

 

 

  1. Đặng Anh Đào - Tài năng và người thưởng thức - NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1994, Tr.125-126.

 

 

  1. Đặng Anh Đào - Từ nguyên tắc đa âm tới một số hiện tượng văn học Việt Nam - Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 6/1990
  2. Lại Nguyên Ân- 150 thuật ngữ văn học - NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999, Tr.208-209.
  3. Nguyễn Tấn Đắc - Nghiên cứu truyện dân gian Đông Nam Á (bằng môtip và type) - Văn học dân gian những công trình nghiên cứu - NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000, Tr. 50.
  4. Nguyễn Quang Lập - Tuyển tập truyện ngắn - NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2010.
  5. Nguyễn Tấn Đắc - sđd, Tr.54-55.
  6. A. Karelski - Về sáng tác của Kafka - Tạp chí văn học nước ngoài - Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội, số 4/1996, Tr.187.
  7.  A. Karelski - Bài đã dẫn, Tr.190

10. Nguyễn Ngọc Thường - Môtip người khổng lồ và người anh hùng văn hoá - Tạp chí Văn học, Hà Nội số 2/1988, Tr.56.

11. Lâm Quý, Phương Bằng - Truyện cổ Cao Lan - NXB Văn Hoá, Hà Nội, 1983, Tr.10-11

12. Phan Thị Diễm Phương - Cảm nghĩ về truyện ngắn Nguyễn Quang Lập - Tạp chí Văn học, Hà Nội, 4/1990, Tr.38

 

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

VỀ HỘI THẢO " THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ MIỀN TRUNG" CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Ngày 24-8- Hội Nhà văn Việt Nam đã họp trù bị chẩn bị cho Hội thảo “Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung”. Vậy là miền Trung đã được đề cập đến một cách trẩn trọng trong bản đồ thơ ca cả nước. Mong   rằng  hội  thaỏ  sẽ đem  lại  nhiều  điều  thú  vị.

Hội nghị chuẩn bị Hội thảo “Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung” của Hội Nhà văn Việt Nam

PV - 24-08-2011 02:24:39 PM

VanVN.Net - Thực hiện sáng kiến của Thường vụ BCH Hội Nhà văn Việt Nam về tổ chức Hội thảo “Thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung”, sáng nay 24 - 8 - 2011 tại Trụ sở  HNV Việt Nam đã diễn ra  phiên họp trủ bị cho cuộc Hội thảo này…

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội giải thích khái niệm hiện đại, có thể liên hệ về thời gian sâu hơn nhưng chủ yếu từ Thơ Mới đến nay (vào Ngày Thơ VN lần thứ X sẽ có triển lãm Thơ Mới tại Văn Miếu để tôn vinh 80 năm tồn tại của dòng thơ này) Nhìn từ miền Trung nhưng căn cứ vào vùng địa văn hóa, chúng ta tạm kể từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Đây sẽ là hội thảo nằm trên tiến trình hội thảo thơ toàn quốc, chúng ta phải làm sáng rõ những nét đặc trưng của miền thơ vạm vỡ này, nó đã góp phần tạo dựng thơ hiện đại của chúng ta như thế nào. Cũng cần giúp trả lời câu hỏi vì sao hiện nay công chúng lạnh nhạt với thơ (ngoài nguyên nhân văn hóa nghe nhìn lấy mất  thị phần của văn hóa đọc). Thời gian  cuộc hội thảo nên vào khoảng đầu tháng 10, các tham luận nên ngắn gọn, xúc tích,  chỉ nên từ 5 đến 7 trang.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó chủ tịch Hội nói thêm, cuộc hội thảo cần nêu bật được những yếu tố tiêu biểu làm nên giá trị thơ miền Trung yếu tố gì còn là cần thiết hỗ trợ cho thơ trẻ phát huy.

Nhà thơ Vũ Quần Phương có ý ngại tên gọi có cảm giác bị cát cứ thơ. Nhưng GS Phong Lê nói ta bàn chung về thơ hiện đại nhưng cái cần đến là thơ Việt, không phải cát cứ mà là cái đóng góp vào thơ Việt của thơ miền Trung, tôi ủng hộ và đó là lý do khiến tôi nhiệt liệt tán thành.

Nhà thơ Anh Chi nói thơ là tùy thời, thời nào thì thơ ấy, rất khó lấy cái đặc thù của thời thơ mới làm bài học cho thơ hôm nay.

Nhà phê bình Chu Văn Sơn: Có lẽ cần đặt tiêu chí rộng hơn

Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp: Ý kiến anh Sơn cần lưu ý.

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến: Tôi sẽ viết về thơ trẻ miền Trung

Nhà nghiên cứu phê bình Phạm Xuân Nguyên nói trước khi ngồi vào bàn hãy thống nhất khái niệm, nên xin hỏi sau nhiều năm thống nhất rồi, chúng ta có nên nói về thơ miền Trung trước 1975 không?

Nhà văn Văn Chinh: Tôi hưởng ứng chủ trương của Hội, hoan nghênh sáng kiến của Thường vụ và tự xung phong viết về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó là lý do tôi có mặt ở đây hôm nay. Tôi hiểu khát vọng tự do đã làm nên thơ mới (thơ ngôn chí), mà ở đâu động lực giải phóng cao nhất, đó là chính chỗ bị trói buộc nhất. Về ý anh Nguyên, tôi thấy chả có gì phải ngại, một câu thơ của anh lính ngụy Nguyễn Bắc Sơn: “Sớm mai đụng trận may còn sống. Về lại sông Quao phá phách chơi” đã có giá trị như là một phần hiện thực của thời ấy mà chúng ta không nên bỏ qua.

Nhà thơ Hữu Thỉnh hoan nghênh đóng góp ý kiến của các nhà phê bình mà ông cho rằng là đại biểu của công chúng thơ, để Thường vụ có được những chuẩn bị cụ thể hơn. Về ý kiến của  nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên ông nói, trước năm 1975, thơ Miền trung cũng có những tác giả đáng lưu ý, ví như thơ Bùi Giáng thì đáng viết, đáng bàn quá đi chứ, ông cũng có đóng góp cho thơ miền Trung và từ đó cho thơ Việt Nam hiện đại, vì lục bát của Bùi Giáng rất lạ.

Trên cơ sở thống nhất những chủ đề và tiêu chí chung, Thường vụ giao cho Ban công tác văn học Miền Trung và các ban chuyên ngành của cơ quan Hội bàn bạc thêm với các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, để chuẩn bị thật kĩ lưỡng về mặt nội dung cho cuộc hội thảo này.

Nguồn: Vanvn.net

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

NGUYỄN VIỆT CHIẾN BÌNH THƠ PHẠM TẤN DŨNG

GIẤC MƠ ĐÀN ÔNG

 

Phạm Tấn Dũng

 

Trong giấc mơ ngắn

thường có giấc mơ đàn ông không biết về ranh giới

nhặt những viên sỏi ủ dưới lòng sông mưa ngày

ném trả về phía đại ngàn âm âm tiếng lá vỗ về

tiếng nỉ non ve rừng nuốt cạn bờ sương triền suối

rồi mơ cái nỗi ngâm chân cửa biển

ngửa mặt hứng mưa trời thắt nhịp hoàng hôn

 

Hòang hôn căn nhà vỏ sò vỏ ốc vỏ bọc

bọc những cái trứng tổ chim thiên di

nở tiếng hót đậu vào sớm mai trôi dạt bãi bờ

nở tiếng huýt gió của loài còng biển

nghe thênh thang nở rộ tháng năm dài

 

Trong giấc mơ ngắn

thường có giấc mơ em từ trong đi ra

tôi ngoắt bàn tay chạm nỗi ngày

tôi xoay bàn chân chạm nỗi đêm

vẫn không bắt kịp vạt áo bà ba bay về phía núi

giấc mơ đàn ông như con ngựa nhai bóng

 

Bóng của những mảnh thủy tinh vỡ và chưa vỡ

một thoáng một thời so dây trên cây đàn cổ tò vò

hát khúc trầm hương quê  quán

lòng lấm lem mộng mị

 

Trong giấc mơ ngắn tôi tỉnh dậy

nỗi niềm soi gương

lặng lẽ chôn giấc mơ đàn ông

không biết về ranh giới

 

 

KHÔNG LỜI MỸ SƠN

 

Phạm Tấn Dũng

 

Nơi ấy nắng lên muộn

nắng xuống chậm

Sông chảy xuôi thì buồn

Lưng song sđầy mốc meo cổ tích

 

Nơi ấy trang to dần

băng qua mảng trời về phía núi

Tôi lần theo

và bơi ngược những dòng sông

dòng sông dắt tôi

như dắt ký ức mình

nhỏ dần

          nhỏ dần

                   nhạt đi

 

Nơi ấy phủ đầy hình hài

mùi hăng cỏ dại

phế tích trĩu buồn

buồn như những cuộc tình không sinh không nở

buồn như tiếng gà bí ẩn xưa xa

buồn đến thót tim những trưa đứng bóng

lảnh lót tiếng gà ác mộng nghìn năm

 

Nơi ấy đèn đã tắt

Tôi ngồi hí hoáy hõm đêm

ngồi như ngồi bên người tình đã từng ôm ấp

những trận mưa quất đau cổ tháp

những vàng vọt nắng quái chiều tà

những chòng vòng nhơ nhớ

lưng sóng đầm đìa phế tích hoang liêu

 

Nơi ấy với những cơn say chệnh choạng

Tôi với bóng mình ngã nghiêng bóng Tháp

dắt ký ức về gởi em giữ dùm...

 

LỜI BÌNH

Ngay khi vài bài thơ đầu tiên của Phạm Tấn Dũng mới xuất hiện trên một số tờ báo, tôi đã khá ấn tượng với tác giả này, tuy không hề quen biết. Nhưng phải đến lúcđọc bài thơ " Không lời Mỹ Sơn" của anh, tôi chợt hiểu rằng, tác giả này thật sự đã phần nào thuyết phục được mình, mộtnhà thơ lớp trước. Với cái nhìn của Phạm Tấn Dũng trong " Không lời Mỹ Sơn", anh đã góp phần khắc họa vẻ đệp điêu tàn của những ngôi tháp cổ ở một tầng cảm xúc, một tầng văn hóa khác khi nhận diện: "  phế tích trĩu buồn/buồn như những cuộc tình không sinh không nở/buồn như tiếng gà bí ẩn xưa xa buồn đến thót tim những trưa đứng bóng/lảnh lót tiếng gà ác mộng nghìn năm" Những ngôi tháp bí ẩn qua ngàn năm hiện hữu ấy vẫn đặt trước thời gian và lịch sử văn hóa của đất nước này, những câu hỏi không dễ gì giải đáp ngay được bằng những lý giải của khoa học nhân văn và lịch sử. Phải chăng, ở một khía cạnh nào đấy, sự chiêm nghiệm và giải mã bằng cảm xúc của các nhà thơ mới có thể mang chạm đến được đến phần rất nhỏ bé của một nền văn minh- văn hóa đã từng chói sáng rực tỡ đến tột đỉnh trước khi hoang tàn, trở thành những phế tích còn lưu lại tới ngày hôm nay. Và, khi bơi ngược dòng sông cổ tích về miền cổ tháp hoang vu ấy, hình như Phạm Tấn Dũng đã chạm được vào một phần rất nhỏ bé của cái tinh thần thẩm mỹ huyền diệu đã là nên sự bất tử của Thánh địa Mỹ Sơn. Vâng, chỉ một phần rất nhỏ bé thôi, vì trước khi diễn ra:" những cuộc tình không sinh không nở"  trong cảm xúc hoài vọng một tác giả thơ hôm nay thì miền cổ tháp linh thiêng  ấy, với những biểu tượng phong phú của sự phồn sinh ( Các Linga và phù điêu vũ nữ) đã làm "một cuộc sinh nở" hoành tráng để trường tồn đến tận hôm nay.

NGUYỄN VIỆT CHIẾN

(4) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TẠP CHÍ ĐẤT QUẢNG THÁNG 8- 2011

I.Chuyên trang : KỶ NIỆM 105 NĂM PHỦ LỴ TAM KỲ VÀ 5 NĂM TAM KỲ TRỞ THÀNH THÀNH PHỐ

 

 Ký ức sưa- Nguyễn Đức Dũng

Thành phố trẻ vươn mình... Phạm Tỉnh Thủy

Nghĩa ân thầm lặng- Phạm Thông

Từ "Bàn Thạch thôn đến thành phố Tam Kỳ- Ngô Khoa

THơ: Các tác giả : Nguyễn Đức Dũng- Đào Tấn Trực- Nguyễn Hải Triều- Phú Thiện- Phùng Tiết- Nguyễn Bá Hòa- Nguyễn Thành Giang- Nguyễn Tấn Sĩ.

Nhạc: Tam Kỳ thành phố tôi yêu: Nhạc & lời: Nguyễn Huy Hùng

Phố xanh của tôi: Nhạc & lời: Huỳnh Ngọc Hải

II. Văn: Tung tinh chuông gió- Hoàng Thái Sơn

Bong bóng xà phòng – Lâm Quỳnh

Thơ: Phạm Tấn Dũng- Nguyễn Ngọc Hưng- Mai Thanh Vinh- Nguyễn Đức Phú Thọ- Lê Vy Thủy- Nguyễn Nguyên An

Văn học nước ngoài: Cái bình đất sét ( Jean Aicard- Pháp)- Võ Hoàng Minh dịch

Các bài viết khác: Từ hiện tượng Hàn Mặc Tử nhìn về thơ Việt hiện nay- Nguyễn Thanh Tâm

Một gửi gắm, một ký thác đẹp- Nguyễn Mậu Hùng Kiệt

Tùy duyên với sách- Bùi Việt Phương

(0) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

THÊM MỘT NHÀ THƠ MANG HỌ NGUYỄN NHO RA ĐI

Nhà thơ Hướng Dương, quê quán làng Bồng Lai, Điện Minh, Điện Bàn, Quảng Nam; tên thật: Nguyễn Nho Thương, một người cùng họ, cùng thời các thi sỹ từng nổi tiếng một góc trời những năm 60 thế kỷ trước nhưng mệnh yểu: Nguyễn Nho Nhượn, Nguyễn Nho Sa Mạc... vừa mới ra đi tại thành phố Hồ Chí Minh.

Lê Trâm cùng anh em văn nghệ Quảng Nam xin chia buồn cùng gia quyến nhà thơ.

Xin giới thiệu bài thơ Huyền  thoại Côn Sơn của Hướng  Dương

 

Hướng Dương
NGUYỄN NHO THƯƠNG

Huyền thoại Côn Sơn


xanh rất xanh
màu xanh bất tận
biển mơn man dợn sóng mây trời
phía Cầu Tàu chiêm nghiệm xa khơi
phương tiềm thức ngời lên men nắng
đưa tay vẫy vô cùng nhiễm mặn
vẫy vô cùng dĩ vãng hồng hoang
thay tấu chương lên án bạo tàn
máu đổ, thịt văng, xác chồng lên xác
hồn anh linh hiện về diệu mật
trên siêu đàng vô chấp bi thương
đây trái tim
ướp tẩm trầm hương
thắp ngọn đèn khiêm nhường sao rụng
một dấu trắng trường canh giao hưởng
trong lộng trường âm vực tri ân
trong nhịp chân khí phách thiên thần
gió lộng Hàng Dương
sóng òa Đập Đá
như quên đêm bóng nằm sóng soải
một thời qua còn đọng kinh hoàng
vùng đăm chiêu ngũ sắc hào quang
quanh bảo tháp tâm linh nhân bản
hàng ngàn nến lạc loài thân phận
cổ độ chong nheo mắt khuya sâu
để sương rơi đẫm ướt bạc đầu
mô đá nhô niềm riêng thầm lặng
phút nguyện cầu không gian chùng xuống
quyện tình vào huyền thoại Côn Sơn
gọi lương tri xóa ngấn oán hờn
gọi nhiệt huyết phục hưng cuộc sống
hóa hiện thực giấc mơ viễn tưởng
miền đông phương loang loáng ửng hồng

 

 

(2) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TIẼN BIỆT TRINH NỮ-Truyện ngắn Lê Trâm

TIẼN BIỆT TRINH NỮ  

Truyện ngắn Lê Trâm

 

Con bé hàng xóm của hắn đã qua đời một cách tức tưởi. Vì xe cẩu, xe ủi gì đó. Gì chứ các loại xe điên cỡ hung thần xa lộ ấy bây giờ vẫn chạy đầy đường. Nên hắn không ngạc nhiên chút nào chỉ ngạc nhiên không biết con bé ấy là con nhà ai. Khỉ thật! Cảnh sát giao thông kết luận rằng hai đứa (chết một lúc cả hai đứa chứ không riêng gì con bé hàng xóm nhà hắn) ngã vào xe đang đi trên đường. Tự dưng ngã vào xe. Những hai đứa. Bố thằng nào tin được. Vậy mà hai đứa cứ phải qua đời. Hai trinh nữ lên trời bởi một kiểu chết đầy nghiệt ngã. Còn mấy ngày nữa hai con bé sẽ thi tốt nghiệp trung học. Hơn tháng nữa có khi vào đại học. Có lạ không khi có ông thầy cũ già bảy mươi tuổi đi xe Attila đến viếng tang đứa học trò mới bước qua tuổi mười tám. Hình ảnh ngược đời ấy càng làm cho cái chết của con bé thêm tức tưởi. Trinh nữ. Là thiêng lắm. Bây giờ trên TV thỉnh thoảng có mấy phim Tàu lại nhắc câu dẫu không sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm cũng xin chết được cùng ngày cùng tháng cùng năm. Ấy, là chuyện những đôi trái gái oan tình lở dở hoặc cố làm ra vẻ duyên tình lận đận cùng thề thốt trước  khi cùng tự vận. Khó mà đếm hết các kiểu tự tử. Có cả cái kiểu chàng trai bình thản nhìn người yêu nhảy sông chết rồi phủi đít ra về, coi như chẳng có chuyện gì hoặc tự tử chỉ để làm đẹp cho một chiếc cầu sắp khánh thành? Nhưng không phải là chúng nó. Hai đứa chúng nó chẳng dính dáng gì đến mấy câu chuyện vớ vẩn phải nghe hàng ngày chỉ biết rằng quả thực chúng đã ra đi cùng ngày cùng tháng cùng năm cứ như là hai đứa đã từng cùng ngồi chung một bàn, chung một lớp những mười mấy năm trời.

Dù sao đi nữa thì trinh nữ cũng đã về trời.

Hắn chưa kịp biết con bé đã yêu ai chưa, dù nó ở chẳng xa mấy nả. Yêu được, là phúc phận cho nó. Còn chưa? Sao mà nghe xót xa quá đỗi!

Người ta bảo trinh nguyên như con bé sẽ sớm được đầu thai thôi. Mà con bé đã hưởng được gì ở cuộc đời nó đâu mà vội tính đến một “ xuất đi đầu thai“ ở tận kiếp khác, ngoài những chuyện học và học?

Khi bệnh viện kết luận con bé chết vì vỡ tử cung người ta mới nhớ rằng ngoài phận sự một đứa con, một đứa học trò ngoan nó còn phải thêm nhiệm vụ mà người ta bảo rằng đó là thiên chức một người vợ một người mẹ nữa. Giờ thì thôi rồi, Trinh ạ, cháu đã bay về trời!

Vợ hắn gọi điện khi hắn đang dự buổi ra mắt một tập sách liên kết của mấy “nhà” ở một thành phố phía Nam cách xa đến cả một giờ bay. Cuối cùng rồi hắn cũng ớ người ra. À thì ra là như thế. Nó chính là con bé tóc ngắn, môi đỏ như son thỉnh thoảng tới xin xoài nhà hắn!

Hắn mở trang đầu một cuốn sách mới cứng, ký loằng ngoằng, viết thêm: Tiễn biệt trinh nữ! rồi bỗng thừ người ra bởi không biết sẽ gởi vào đâu!

                                                            Km 962, ngày 5.7.2011

Lê Trâm. ĐT: 0988 491 406   - Bưu điện Hương An-  Quế Sơn- Quảng Nam

email: letram.tieukhe@gmail.com

 

(3) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

TẠP CHÍ ĐẤT QUẢNG THÁNG 7- 2011

Văn:

Bút ký Bâng khuâng trời rộng, sông dài - Nguyễn Nhã Tiên* Các truyện ngắn: Hút bóng người xưa- Lê Nguyên Ngữ* Bướm đêm- Phan Thị Thu Loan* Miền xanh ký ức- Sông Hoài

Thơ của các tác giả:

Nguyễn Hữu Quý-Phú Thiện- Nguyễn Thế Kiên- Lê Anh Phong- Phạm Phù sa- Nguyễn Thái Hư- Mặc Sinh- Nguyễn Tường Thuật- Nguyễn Anh Đào- Võ Thị Hồng Tơ- Trịnh Ngọc Dự- Hoàng Thanh Thụy- Nguyễn Đức Dũng- Thái Bảo-Dương Đỳnh- Nguyễn Thị Anh Đào- Phương Dung-Đỗ Thượng Thế- Lê Thành Văn

Theo dòng lịch sử:

Nước mắt Gò Cà- Đỗ Như Thuần

Dòng chảy văn hóa:

Những nét văn hóa riêng biệt của đồng bào Cadong ở Nam Trà My- Nguyễn Văn Thi

Nghiên cứu lý luận phê bình:

Vài ghi nhận vềcâu đối trong di tích cổ tại HộiAn- Phạm Thúc Hồng

Diễn ngôn cổ tích về tình yêu của những người trẻ tuổi- Yến Thanh

Bìn bài thơ”Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến- Nguyễn Mậu Hùng Kiệt

Trà dư tửu hậu:

Tính hiện đại trong âm nhạc- Cần được hiểu như thế nào- Phan Văn Minh

Văn học - học văn:

Hoa học trò- Lưu Ngọc Phúc

Thơ của Trần Văn Luận- Trần Thanh Sơn

* Bạn  đọc có thể mua Tạp chí Đất Quảng tại các quầy sách báo ở Tam Kỳ và Hội An

(2) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

NHỮNG NGƯỜI ĐO NƯỚC- truyện ngắn Lê Trâm

Câu chuyện lãng  mạn  này được  kể  bên một  dòng  sông  không  kém  phần  thơ mộng.  Không  tin  bạn   cứ đến  nơi  ấy   và  ở  lại một đêm...

 

NHỮNG NGƯỜI ĐO NƯỚC

Truyện ngắn Lê Trâm

 

Sáu năm rồi tôi vẫn qua lại nơi ấy. Đi qua mà chẳng thấy gì. Khi bằng ca nô, khi bằng ghe nhỏ. Thậm chí nhiều lúc đi bộ ngang cổng trạm. Chỉ cần vượt bảy mươi sáu bậc đá kể từ mặt nước sông hoặc ba mươi hai bậc nếu tính từ con đường mòn ít người qua lại vắt ngang cổng trạm tôi sẽ nhập vào thế giới trầm lặng của những người đo nước sông ngay. Một thế giới mà trong mắt tôi có cái gì đó khang khác so với các ngành tôi biết.

Sông Thu Bồn vẽ vời quanh co nhưng lại chảy dữ dội chứ không dung dằng như  dòng Hương giang lặng lờ. Sớm cảm những câu ca Quảng Nam từ nhỏ nên trong trí tôi cứ tưởng tượng dòng sông luôn phải có bên bồi bên lở. Ở miệt này sông giống như một vết nứt, hai bên toàn vách đá. Nước chảy giữa hai vách đá dựng đứng tạo nên âm điệu tiếng đàn. Đàn đá bậc trầm. Có thể không phải như thế nhưng điều chắc chắn khi đến với tôi nó là như thế thật.

Trạm thủy văn khiêm tốn nép vào sườn núi. Có lắm truyền thuyết kể về ngọn núi. Mỗi truyền thuyết đều mang theo một chuyện tình đẹp. Câu chuyện gắn với tên núi lưu lại trong trí nhớ tôi lâu nhất. Ấn tượng mạnh mẽ của buổi sáng mùa đông khi sương trắng như dải lụa ôm vòng lưng núi trông cứ như vầng khăn tang trên đầu người cô phụ xa xưa nào đó đã tạc vào tâm trí tôi khó lòng phai nhạt. Năm bảy tư, bộ đội chủ lực cùng với du kích địa phương đã nhổ gọn cái chốt địch cắm trên đỉnh núi, mở đầu cho chiến dịch Nông Sơn – Trung Phước lịch sử. Chẳng còn dấu vết nào của trận đánh lưu lại ngoài câu chuyển kể của dân quanh vùng. Thay vào đó, một căn nhà xinh xắn được dựng lên trong sự thắc mắc của nhiều người. Đo nước một dòng sông ư? Như việc làm của vị thần nào đó chỉ có trong thần thoại? Rồi lần lượt xuất hiện những vị thần bằng xương bằng thịt. Hai chàng trai và một cô gái. Họ sống lầm lũi như những người đốn củi với công việc bận rộn của mình. Một sợi dây cáp được giăng ngang sông, khoảng lưng chừng núi với những biển số khó hiểu. Một vật tròn tròn nửa giống quả đạn cối tám hai nửa giống chiếc máy bay con con buộc vào chiếc ca nô. Thỉnh thoảng nó lại được thả xuống đáy sông. Dân quanh vùng tò mò nhìn công việc của họ. Lâu dần đâm quen, trạm thủy văn bây giờ tồn tại một cách hợp lý dù rằng trước đó ít ai hiểu sự quan trọng của nó. Sinh mạng, tài sản, công việc làm ăn của bao nhiêu con người suốt lưu vực rộng lớn và mầu mở hai bên bờ Thu Bồn ít nhiều thuộc vào nó. Nhiều lúc tôi nghĩ đến những con người đã ngã xuống dọc theo dòng sông vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Giữa họ và những con người hôm nay như có một vạch nối. Cái vạch nối giữa quá khứ hào hung và hiện tại không ít khó khăn. Ấy vậy mà tôi, sáu năm trời qua lại nơi này mà chẳng nhìn thấy gì. May thay còn có cơn mưa đột ngột hôm ấy. Cơn mưa ném tôi vào căn nhà nhỏ xíu, xinh xắn kia  khi tôi chưa kịp suy nghĩ, đắn đo. Cơn mưa kéo theo bóng tối từ lòng sông lên phủ quanh căn nhà, xóa mất phút nhập nhoạng giữa chiều và tối, kéo tôi nhập vào một thế giới khác.

Chúng tôi ăn cơm tối khá muộn vì bận làm các thủ tục xã giao phần vì trạm chẳng có gì nên để làm một bữa cơm khiêm tốn đãi khách là cả một vấn đề. Tôi có cảm tưởng mình trở thành người nhà ngay từ lúc ăn cơm. Trưởng trạm đón tiếp tôi niềm nở hơn cả khách quí. Hình như họ sớm lây tính hiếu khách của dân miền ngược kể từ khi lên đây làm việc. Vồn vã và chân thành.

Khi đã nằm thoải mái trên chiếc giường dành cho trưởng trạm, tôi vẫn không hết băn khoăn. Tôi nghĩ nhiều đến những người chủ nơi này. Họ có cái gì đó vừa gần gũi vừa xa xôi trong cuộc sống lẫn công việc. Công việc lặng lẽ khiến tôi cứ nghĩ họ vừa bước ra từ chuyện cổ tích nào đó có các vị thần gây mưa làm gió. Không, họ rất thật và gần gũi đấy thôi. Cậu trưởng trạm có dáng vẻ nông dân chân chất. Vạm nỡ như gấu và rất hay tếu. Ngược lại, Lân, cán bộ kỹ thuật, ẻo lả như một sinh viên đang kỳ thực tập. Trạm còn một cái âosng nửa, Mai Lan. Cô gái Hà Nội gốc Quảng Nam vừa tốt nghiệp đã xin về ngay quê nhà làm việc. Với tôi, Mai Lan quả thật là cái bóng theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cô ít khi ngồi nói chuyện lâu, cứ lăng xăng hết chỗ này đến chỗ khác. Hình như mọi chuyện không tên còn lại của trạm đều do Mai Lan đảm trách. Cô là nữ duy nhất nên càng bận. Tưởng đâu ở một trạm lẻ heo hút thế này các cô gái chỉ đọc sách hoặc soi gương làm dáng mà thôi. Khuôn mặt Mai Lan phảng phất vẻ buồn khó diễn tả thành lời. Tôi liên tưởng đến một câu nói nửa muốn bật nhưng nửa khác cố nén lại.

Khi đã quá quen thuộc với ngôi trạm tôi mới gần Mai Lan được. Hình như cô gái mong mỏi ở tôi điều gì đó thì phải. Cho đến một hôm cô chợt bật những ý nghĩ của mình, thật bất ngờ. Đêm ấy, bên đống lửa rực rỡ, Mai Lan kể tôi nghe tất thảy mọi điều cô chỉ muốn chôn kín…

 

***

Chắc anh không bao giờ nghĩ rằng tôi là người ở trạm này lâu nhất. Bao người đến rồi đi riêng tôi vẫn ở lại. Duyên nợ thôi anh ạ. Với con sông và với một người. Chuyện bắt đầu từ khi người con trai lạ mặt xuất hiện, mang theo những ngọn gió ấm áp, những ngọn gió từng một thời vỗ về tôi.

Dạo ấy, tôi cũng kiêm thêm nhiệm vụ chị nuôi như bây giờ. Một bữa, tôi đang loay hoay làm cơm chiều thì anh ta đến. Bóng anh ta che tối cả khung cửa. Tôi nghe một giọng nồng ấm pha chút tinh nghịch:

-Tội gì phải cắm cổ thổi lửa thế hở người đo nước sông? Dưới chân cô mười mét có cả hầm than đấy, đào lên mà nấu đi! Đủ cho cô đốt cháy cả vùng này ! Nhưng đừng có đốt tui nhé, tui còn yêu đời lắm lắm!

Tôi chưa kịp trả lời anh chàng đã cười ha hả rồi bỏ đi. Dáng đi lừng lững trông thật ngạo mạn. Hai tay thọc trong túi quần công nhân bạc phết, miệng huýt sáo, anh chàng đi về phía suối. Chưa đầy mười phút sau đã nghe vẳng lại tiếng hát. Phải nói anh chàng hát hay tuyệt vời. Vừa tha thiết vừa rủ rê. Chao ơi, làm sao quên được cái bài dân ca Gruzya quyến rũ ấy cho được!

Anh dựng nhà bên suối

Nhặt đá tạc hình em

Anh hát mòn hơi, em hỡi

Mà sao tim đá cứ im lìm?

****

Đến cùng anh, em nhé

Ơi hoa anh túc dịu hương

Hát cùng anh…

 

Tiếng ghi ta bập bùng và tiếng hát nhức nhối của người con trai lạ chợt cày trong tim tôi nỗi nhớ Hà Nội, nhớ trường lớp, bạn bè vô kể. Anh chàng làm tôi nhớ tới Nghiêm và mối tình đầu đau đớn của mình. Nghiêm cũng thích dân ca. Dân ca quan họ. Khi nghe anh hát về miền sông nước lơ thơ, về những lền anh, liền chị, về hội Lim tôi chỉ còn muốn gói tròn cuộc đời mình lại ném vào đời anh chẳng chút do dự, đăn đo. Càng yêu anh bao nhiêu tôi càng khóc bấy nhiêu khi nghe tin anh hy sinh. Và chiều hôm ấy, nghe người con trai lạ hát tôi đã khóc rất nhiều. Khóc và gọi tên Nghiêm. Ngày ấy, không về được quê Nghiêm cũng chỉ vì nơi này giữ lấy tôi. Cha và anh tôi đã lần lượt ngã xuống hai bên bờ sông này. Tôi trở lại đo nhịp đập dòng sông bên những biền dâu, nương khoai, nhà cửa , ruộng vườn quê tôi. Tôi hiểu và yêu quí công việc của mình, và cũng để dỗ yên trái tim nhỏ bé, yếu đuối của mình. Tôi muốn được yên tĩnh. Thế mà anh chàng kỳ cục ấy lại đến xáo tung bao nỗi đau thương. Tôi đâm bực và thấy ghét anh ta. Chiều chiều, từ lán của đoàn địa chất anh ta vẫn bơi qua bên này sông, chọc tôi vài câu rồi biến vào suối hát vang núi rừng. Anh chàng hát rong ấy lúc nào cũng lùi lũi một mình. Lập dị chẳng ra lập dị, cô đơn chẳng ra cô đơn. Anh ta vẫn cứ hát và chẳng bao giờ chịu hiểu rằng tôi ngày càng khổ sở vì tiếng hát của anh.

Huy hành hạ tôi bằng tiếng hát mê hoặc và dáng vẻ ngạo mạn. Và có lẽ chỉ có thế. Tất cả sẽ dừng lại ở đó. Trái tim con gái sớm chịu đựng đau khổ nhủ tôi hãy dè chừng. Tôi chỉ mong cuộc sống đơn giản và dịu dàng. Vẻ phớt đời của Huy làm tôi sợ. Tôi cố tránh gặp anh ta. Nhưng càng mong Huy đi khuất tôi càng thấy trống vắng nếu buổi chiều nào thiếu tiếng hát anh.

Dù sao đi nữa tất cả cũng chỉ dừng lại ở giới hạn cho phép nếu không có buổi chiều kia. Dòng sông nhận nước của hơn mười ngày mưa tầm tã, gầm réo dưới chân sườn núi. Mọi người đi vắng hết. Sợi dây buột chiếc ca nô đã sổ tung. Tôi chỉ kịp vơ vội cây sào. Đột nhiên, một mảng gỗ lớn lao thẳng vào thành ca nô. Cây sào vọt khỏi tay và toàn thân tôi chợt run lên bởi cái lạnh của nước. Con xoáy như bàn tay gớm ghiếc của thủy tề gớm ghiếcvươn tới, nhấn chìm tôi xuống. Trong cơn hoảng loạn tôi vẫn kịp nhận ra một bóng người phóng xuống nước hệt con chim én. Ra là Huy! Sao Huy lại phải chết vì tôi bởi con sông quái ác này?

Sự thông minh của Huy đã cứu sống tôi. Anh không phóng xuống sông một mình mà với thanh gỗ dài. Tôi vơ quáng quàng một đầu gỗ và anh, đầu kia. Con xoáy không rút được thanh gỗ, gầm gừ sủi tung bọt trắng xóa. Hai đứa vượt qua miệng vực xoáy như trôi trên đầu cái chết.

Lên bờ, không kìm được, tôi ngả đầu vào ngực Huy khóc như đứa trẻ. Đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu vì sao lúc ấy tôi lại khóc. Huy vuốt tóc tôi, dỗ dành :

- Nín đi, người quen uống nước sông ! Tôi đào than lên đốt sưởi cho em nhé?

   Đến lúc đó mà Huy vẫn còn đùa được. Tôi nghe ấm ức vô cùng, vùng chạy vào trạm. Anh lắc đầu nhìn theo tôi, cười ha hả.

Từ bữa ấy, tôi trở thành của Huy. Còn huy, anh có là của tôi không ?

    Tôi thường theo Huy vào núi mỗi chiều. Giọng hát Huy đã vơi bớt nỗi cô đơn. Nhưng nhiều khi lời anh hát làm cho tôi buồn không ít.

Anh buộc sợi chỉ hồng

vào tay em

Em là của anh rồi

 

      Em là con chim vành khuyên

anh vớt từ con nước dữ

Ơi em, hãy múa cùng anh !

Cỏ non xanh nõn, mượt mà trải êm dưới chân. Tôi nằm ngửa,dầu tựa trên tay, ngắm nhìn trời. Huy búng ghi ta, hát và nhảy múa quanh tôi như một anh chàng digan. Rừng núi hiện lên trong mắt anh rực cháy. Tôi hát theo Huy bằng giọng hát của con chim bị nạn chưa lành hẳn vết thương. Tôi bây giờ thiếu gì nhỉ? Tình yêu, âm nhạc, cuộc sống. Một cuộc sống do chính tôi lựa chọn và đang rất hài lòng.  Nghiêm à, anh hãy tha lỗi. Dù sao tôi cũng chỉ là một con bé vừa rời ghế nhà  trường.  Tôi không thể kìm lòng trước niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao Huy vừa mang tới. Anh và kỷ niệm thời học trò chưa bao giờ nguôi ngoai trong tôi. Hầu như lần nào đi chơi cùng Huy tôi dều nghĩ tới Nghiêm. Nhưng rồi sự dằn xé cũng nguôi dần đi.

Từ dạo quen Huy, Tùng - người  trưởng trạm có vẻ như ít nói hẳn. Anh trở nên trầm ngâm. Tôi kể anh nghe về trưởng trạm Tùng. Hồi ở trường Tùng học rất giỏi. Được giữ lại trường nhưng Tùng từ chối, lại xin nhập ngũ. Ra quân, thêm ba năm lặn lội tận đầu nguồn sáu bảy con sông trước khi về hẳn nơi này. Tôi coi Tùng như anh ruột. Nhưng bằng sự nhạy cảm của con gái tôi biết anh không chỉ muốn thế. Anh vẫn thường săn sóc tôi bằng sự dịu dàng ít thấy. Một con bé  sớm mồ côi như tôi làm sao tránh khỏi xúc động. Thế nhưng với anh tôi chỉ có thể mãi là cô em gái bé bỏng. Khi quen chàng kỹ sư địa chất, tôi cố tránh mặt Tùng. Tôi sợ anh buồn. Hình như anh cũng thế. Vô tình giữa hai chúng tôi dựng lên một vách ngăn xa cách.

Rồi cũng chẳng yên. Những điều Tùng và một số công nhân địa chất nói về Huy làm tôi khổ sở không ít. Hình như Huy chán và thường tìm cách chống lại đội trưởng, một kẻ bất tài nhưng độc đoán. Chán nản, Huy thường sa vào nhậu nhẹt với mấy công nhân và đám thanh niên đi tìm trầm, mấy lần gây gổ, suýt chỏang nhau. Nhiểu lần tôi nhắc nhưng Huy chỉ cười, bảo : «Con trai mà, uống tí cho vui.Với lại, ở đây buồn quá, chẳng có gì để giải khuây cả ! » Không hiểu sao tôi cứ tin Huy, tôi tin anh không thể nào hư hỏng được. Đôi khi tôi lại nghĩ Tùng chỉ tìm cách cường điệu thêm.Tôi thật sự có lỗi với Tùng.

Cho đến một buổi sáng, Huy tìm đến trạm. Tôi ngạc nhiên vô cùng. Đây là lần đầu tiên anh đến trạm vào buổi sáng. Lúc tôi đang viết báo cáo, Huy ào vào như cơn lốc :

-         Chuẩn bị đồ đạc về thành phố với anh ! Về luôn !

Tôi tròn mắt nhìn Huy :

-         Có chuyện gì thế, anh Huy ?

Huy bước tới, bước lui trong phòng vẻ nôn nóng :

- Tôi ngán nơi đây lắm rồi. Cứ mải đất với đá, rừng với rú. Thà về chết ở thành phố còn sướng hơn !

Tôi chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra với Huy. Tôi bỗng nhớ lại những lần Huy kể. Con một cán bộ cao cấp, Huy ao ước vào đại học, ra trường được ở lại thành phố. Mong ước là thế không hiểu sao Huy lại đâm đơn thi vào trường mỏ. Xin chuyển ngành mãi không được, Huy về đây với sự lãng mạn còn sót lại của một cậu chàng sinh viên nhiều ảo tưởng. Qảu thật, lúc đầu Huy thực sự thích thú với cảnh núi non hùng vĩ nhưng riết rồi Huy đâm nản chí. Bản tính thích sự thay đổi khiến Huy không chịu ngồi yên. Phải chăng hai năm đã đủ khiến Huy rời bỏ nơi này?

Sau này tôi nghe nói lại, vì lỡ thách thức với đội tưởng về thời gian hoàn thành việc khảo sát, Huy chưa kịp thăm dò đường đã cho công nhân mang máy khoan đi. Do mang quá nặng, một mép núi xuống, máy khoan đè lưng một công nhân. Máy hư khá nặng. Bị đình chỉ công tác chờ kỷ luật, đã không chút hối hận Huy lại lồng lộn lên. Cuối cùng...

- Nếu cô không đi thì thôi vậy...

Cổ tôi nghẹn ứ. Tôi cố nén vẫn không khỏi bật khóc. Huy đối xử với tôi như với một đứa trẻ ngốc nghếch. Có thật là tôi đã ngốc nghếch 

Huy bỏ đi như lúc đến, in hệt một cơn lốc. Tôi đứng như trời trồng. Nước mắt lăn dài. Tay ấp lên bụng, răng cắn chặt để khỏi bật khóc thành tiếng. Điều vui mừng chưa kịp báo Huy đã bỏ đi.Căn nhà tự dưng quay cuồng, đất dưới chân tôi như sụt hẳn xuống, bên tai văng vẳng tiếng ghi ta bập bùng.

Anh dựng nhà bên suối

Nhặt đá tạc hình em...

 

Quá tự ái, tôi chẳng thèm đi tìm Huy. Tôi càng phản đối cách giải quyết của trạm đối với cơ quan và chính Huy. Tùng khổ sở vì chẳng giúp gì cho tôi bởi những ý kiến anh đưa ra tôi đều gạt đi. Tôi dại tôi chịu chứ sao! Tôi không thích ai can thiệp vào chuyện riêng của mình. Rôi tôi sinh. Tùng chăm sóc tôi suốt thời gian khốn khó ấy. Đứa con gái non ngày tháng qua đời trong nỗi buồn tủi khó phai của mẹ nó.Tôi chịu kỷ luật một thời gian rồi được gọi làm việc lại. Mấy lần định bỏ đi, nghĩ mãi rồi thôi. Tôi không thể xa trạm được. Dòng sông với con nước dù hang hãn đã trở nên quá quen thuộc với tôi. Tôi không thể làm kẻ chạy trốn. Thêm một sai lầm nữa hay sao? Tôi xót xa quá đỗi. Huy như màn sương bao phủ quanh cuộc đời tôi. Dưới ánh nắng tôi chỉ nhìn thấy toàn cầu vồng rực rỡ nào thấy gì nữa đâu? Làm sao dám nghi ngờ một người đã liều chết cứu lấy mình như Huy được? Mộtt sự tính toán khôn ngoan ư ? Một hành động nghĩa hiệp làm cho ra vẻ ? Không thể. Tôi không thể nào hiểu Huy nổi. Chỉ biết Huy là một kẻ vô trách nhiệm, ngại khổ và cầu an,... một kẻ đào ngũ. Tôi vin vào sự thay đổi của Huy để tự an  ủi mình và cố níu kéo ngày tháng đẹp đẽ bên Huy. Cuối cùng thì tôi thất vọng. Huy chẳng là gì cả!

Tôi chẳng dám nghĩ đến Tùng mặc dầu anh vẫn ở bên cạnh tôi. Ánh mắt anh vẫn như vuốt ve, an ủi, dỗ dành tôi. Không có Tùng chắc tôi chẳng tồn tại. Tôi càng không dám nghĩ đến Nghiêm. Con bé sinh viên một thời đã chết mất rồi !

Thế mà tôi vẫn cứ mong chờ Huy trở lại. Chờ chứ không phải đi tìm. Mỗi chiều tôi lại lần ra bờ suối. Tiếng hát Huy vẫn còn nhói buốt trong tôi.

Một buổi sáng Tùng đi công tác trở về. Anh nhìn tôi rất lạ. Tôi chợt thảng thốt khi nhận ra mấy vệt máu nơi ngực anh. Tôi hỏi, gần phát khóc :

-         Chuyện gì vậy anh Tùng ?

Tùng lắc đầu, vẻ mệt mởi pha chút ân hận :

-         Hắn đi rồi! Tôi vừa mới tống cổ hắn đi rồi !

     Tôi phóng chạy xuống con đường mòn trước trạm. Một con dốc, hai con dốc. Tai tôi ù lên. Tôi gục đầu bên suối nức nở khóc. Sẽ chẳng còn gì để tôi chờ đợi nữa. Đầu tôi chỉ còn một khoảng trống mênh mông. Tôi khónhọc đứng dậy, bước đi chơi vơi, chẳng biết bấu víu vào đâu. Đến giọng hát của Huy cũng chập chờn để rồi bỏ tôi đi nốt. Tôi thẩn thờ vừa đi vừa khóc hồi lâu, cho đến khi Tùng đến dìu về trạm.

Sau sự cố ấy dường như Tùng có vẻ ân hận. Tôi lầm lì hẳn và cố tìn việc để làm, để quên. Tôi nhận hết các buổi đo nước ngay cả những khi lũ lên cao. Nhận ra sự bất thường của tôi Tùng càng thêm khổ sơ. Ánh mắt anh thường nhìn tôi như van nài. Tôi sống như cái xác không hồn hết một mùa lũ dữ.

Cô gái ngừng kể. Cái nhìn đau đớn không giấu giếm được ai. Tôi thở dài. Cô gái uống vội ly nước, kể tiếp.

Sau đó Tùng chuyển đi nơi khác. Anh chuyển đi khá nhiều nơi rồi biệt tích hẳn. Thiếu Tùng tôi dần vỡ ra nhiều thứ. Năm năm sống gần anh, tôi chẳng nhận ra bóng dáng của Nghiêm nơi anh. Tôi mải mê đuổi theo cái bóng mà không biết. Lòng dạ Huy tôi còn không đo được, chứ Tùng vẫn như lòng sông Thu Bồn này mà đâu có gì xa lạ. Dẹp mọi tự ái lẫn ngại ngùng, tôi đâm bổ đi tìm Tùng. Anh lánh tôi rồi biến mất hẳn.

    Giọng cô gái chùng xuống :

  - Tôi vẫn chờ anh ấy quay trở lại. Như lòng sông ấy thôi, đo nhiều lần rồi cũng biết. Có điều hơi chậm, phải không anh ?

(2) Góp ý    (0) Trackbacks      EditEdit    Bản inBản in

1 2 3 4 5 6  Sau»